Thông tin y khoa

Viễn thị, cận thị và loạn thị

SUY NGHĨ

Bạn đã bao giờ thấy rằng một số người khó nhìn rõ ở xa – nhưng có thể nhìn rõ ở gần, trong khi những người khác khó nhìn rõ các vật ở gần – nhưng có thể nhìn dễ dàng các vật ở xa?

Các tật khúc xạ ảnh hưởng đến thị lực ở các khoảng cách khác nhau. Tùy theo loại tật khúc xạ, thị lực nhìn xa, nhìn gần, hoặc cả xa và gần có thể bị ảnh hưởng.

MỤC TIÊU

Bài này cho thấy tại sao một số người mắt bình thường lại không nhìn rõ hoặc dễ chịu, và giải thích tại sao kính có thể giúp những người này nhìn rõ.

KẾT QUẢ HỌC

Khi học xong bài này, bạn phải có khả năng:

- Mô tả nguyên nhân của viễn thị, cận thị và loạn thị.

- Biết các triệu chứng của viễn thị, cận thị hoặc loạn thị.

- Nhận biết kính nào chỉnh viễn thị, cận thị và loạn thị.

- Biết những biến chứng kèm theo viễn thị và cận thị.

- Hiểu tại sao triệu chứng của tật khúc xạ có thể thay đổi ở người già và thay đổi như thế nào?

ÔN TẬP – VIỄN THỊ, CẬN THỊ và LOẠN THỊ


CÁC BỘ PHẬN CỦA MẮT
 

Giác mạc:

- Giống như cửa sổ của mắt.

- Trong suốt, để ánh sáng đi vào nhãn cầu giúp cho mắt nhìn được.

- Giúp hội tụ ánh sáng đi vào mắt
 

Thể thủy tinh:

-Trong suốt ở mắt bình thường.

- Thay đổi hình dạng để đưa tiêu điểm của mắt từ xa lại gần.
 

Võng mạc:

-Lớp trong ở phần sau của mắt.

-Tiếp nhận ánh sáng đi vào mắt và chuyển đổi thành tín hiệu thần kinh để truyền lên não.
 


MẮT BÌNH THƯỜNG TIẾP NHẬN ÁNH SÁNG THẾ NÀO?
 

Ánh sáng từ một vật đi vào mắt dưới dạng các tia sáng.

Ánh sáng đi qua lớp nước mắt, giác mạc, tiền phòng, đồng tử, thể thủy tinh và dịch kính trước khi đến võng mạc.

Các tia sáng được hội tụ bởi giác mạc và thể thủy tinh.

Nếu ánh sáng hội tụ đúng trên võng mạc, ảnh sẽ rõ nét.

Ở võng mạc, ánh sáng được chuyển thành thành tín hiệu điện (tín hiệu thần kinh).

Thông tin nhận được bởi võng mạc được chuyển lên não qua thị thần kinh.


HỘI TỤ ÁNH SÁNG Ở MẮT
 

Ở một mắt không có tật khúc xạ, ánh sáng vào mắt được hội tụ trên võng mạc
bởi vì:

- giác mạc và thể thủy tinh có hình dạng đúng; và
- nhãn cầu có kích thước đúng.
Nếu mắt không có kích thước hoặc hình dạng đúng để hội tụ ánh sáng trên võng
mạc thì gọi là mắt có tật khúc xạ.


THỊ LỰC
 

Thị lực là số đo mức độ nhìn rõ của bệnh nhân khi mắt nhìn thẳng vào một vật.
TL có kính là TL khi bệnh nhân đeo kính.
  TL không kính là TL khi bệnh nhân không đeo kính.
Nguyên nhân thường gặp của TL kém là:

   Tật khúc xạ (người này cần kính để nhìn rõ)

  Bệnh mắt


TẬT KHÚC XẠ LÀ GÌ?
 

Một người có tật khúc xạ sẽ cần đeo kính gọng hoặc kính tiếp xúc để có thể nhìn rõ và dễ chịu. Bởi vì mắt không có kích thước và/hoặc hình dạng đúng.

Có 4 loại tật khúc xạ: cận thị, viễn thị, loạn thị và lão thị.

Mức độ tật khúc xạ một mắt phụ thuộc vào:

Độ cong của giác mạc; và/hoặc

Độ dày của thể thủy tinh; và/hoặc

Độ dài của trục nhãn cầu.

Người có tật khúc xạ sẽ có mắt trông bình thường, nhưng nhìn không rõ.

Khám mắt để đánh giá tật khúc xạ được gọi là đo khúc xạ.


ĐIỀU TIẾT LÀ GÌ?
 

Điều tiết xảy ra khi cơ thể mi co và thay đổi hình dạng của thể thủy tinh (dày lên hơn).

Điều tiết thay đổi tiêu điểm của mắt để cho mắt nhìn rõ được các vật ở gần.

Khi điều tiết được giãn ở mắt bình thường (không có tật khúc xạ), các vật ở xa được thấy rõ.

Lão thị là sự thay đổi tự nhiên ở mắt do tuổi già trong đó thể thủy tinh cứng lại khi tuổi tăng . Khi bị lão thị, thể thủy tinh không thể thay đổi hình dạng một cách dễ dàng khi cơ thể mi co. Nghĩa là một người già không thể điều tiết nhiều hoặc dễ dàng như một người trẻ.

Nếu mắt bình thường không thể điều tiết (có lão thị), các vật ở gần nhìn sẽ mờ.

Biên độ điều tiết là tổng mức độ điều tiết có được để thay đổi tiêu điểm của mắt.

Biên độ điều tiết giảm khi tuổi tăng lên.

Để tránh triệu chứng mỏi mắt khi làm việc nhìn gần lâu dài, thường chỉ nên dùng một nửa biên độ điều tiết.

CÁC TẬT KHÚC XẠ
Có 4 loại tật khúc xạ: viễn thị, cận thị, loạn thị và lão thị.
Trong bài này chúng ta sẽ thảo luận 3 tật khúc xạ (viễn thị, cận thị và loạn thị).
Lão thị sẽ được đề cập đến ở các bài khác.

1. VIỄN THỊ
VIỄN THỊ LÀ GÌ?
Khi các tia sáng từ một vật ở xa (6 m hoặc hơn) hội tụ sau võng mạc ở một mắt không điều tiết, chúng ta nói rằng mắt viễn thị, hoặc người đó viễn thị. Viễn thị đôi khi còn được gọi là “mắt nhìn xa”.
Hình 1 cho thấy ánh sáng từ một vật ở xa hội tụ ở một tiêu điểm sau võng mạc của mắt viễn thị không điều tiết. Ánh sáng thực sự không hội tụ ở sau nhãn cầu, nhưng nếu phần sau của nhãn cầu không chặn các tia sáng thì nó sẽ hội tụ như vậy.

Tiêu điểm ở mắt viễn thị không điều tiết nằm sau võng mạc

Hình 1: Tiêu điểm ở mắt viễn thị không điều tiết nằm sau võng mạc


NGUYÊN NHÂN CỦA VIỄN THỊ:
Viễn thị có thể do:
Mắt ngắn hơn bình thường (gọi là viễn thị do trục)
Giác mạc và/hoặc thể thủy tinh dẹt quá (không đủ cong) do đó công suất quá thấp (gọi là viễn thị do khúc xạ)
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU TIẾT Ở MẮT VIỄN THỊ:

Hình 1 cho thấy ánh sáng từ một vật ở xa hội tụ ở sau võng mạc một mắt viễn thị không điều tiết.
Hình 2 cho thấy cũng mắt đó khi điều tiết vừa đủ để đưa tiêu điểm về đúng trên võng mạc làm cho nhìn xa rõ. Nhờ vậy, người viễn thị có thể điều tiết đủ để nhìn rõ mà không cần kính.

Tiêu điểm của mắt viễn thị có điều tiết bây giờ ở trên võng mạc

 

Hình 2: Tiêu điểm của mắt viễn thị có điều tiết bây giờ ở trên võng mạc.

ghi chú Triệu chứng của viễn thị thay đổi tùy theo mức độ điều tiết có thể dùng (tuổi bệnh
nhân), và mức độ viễn thị.
Tuy nhiên, hầu hết người viễn thị than phiền khó nhìn gần – họ thường nói nhìn gần
kém hơn nhìn xa.
Người viễn thị thường khó nhìn về đêm hoặc ở nơi ánh sáng yếu.

TRIỆU CHỨNG CỦA VIỄN THỊ KHÔNG ĐƯỢC CHỈNH KÍNH:
 

Hướng dẫn chung là:
Nếu viễn thị nhẹ, bệnh nhân có thể điều tiết đủ để bù trừ cho viễn thị – trong trường hợp này bệnh nhân sẽ nhìn rõ cả ở xa và gần mà không cần đeo kính.

Người viễn thị nhẹ có thể (hoặc không) than phiền mắt bị mỏi hoặc đau, hoặc không bị đau đầu khi làm công việc nhìn gần nhiều, chẳng hạn đọc sách hoặc khâu vá.

Những triệu chứng này được gọi là “mỏi mắt” do cơ thể mi bị mỏi khi phải làm việc nhiều để cho thể thủy tinh điều tiết.

Người bị mỏi mắt cũng có thể kém tập trung khi làm việc nhìn gần, hoặc tránh công việc nhìn gần nếu có thể.

 - Nếu viễn thị ở mức độ trung bình, bệnh nhân có thể bị mờ khi nhìn gần, nhưng nhìn xa có thể vẫn rõ.

 - Nếu viễn thị ở mức độ nặng, bệnh nhân có thể nói rằng cả nhìn xa và nhìn gần đều bị mờ.

 - Viễn thị nặng có thể gây lác mắt. Chúng ta sẽ nói kĩ hơn về lác mắt trong bài này.


ĐIỀU GÌ XẢY RA KHI NGƯỜI VIỄN THỊ ĐẾN TUỔI GIÀ
 

Như thấy trong Hình 2, điều tiết có thể di chuyển tiêu điểm từ sau võng mạc về trên võng mạc để tạo ra ảnh rõ nét. 

Khi tuổi tăng lên, triệu chứng của viễn thị thường nặng hơn, mặc dù độ viễn thị không nhất thiết thay đổi. Bởi vì, ở người già, thể thủy tinh trở nên cứng hơn và kém đàn hồi hơn, làm cho cơ thể mi khó thay đổi hình dạng của thể thủy tinh – do đó điều tiết khó hơn. Lúc này, mắt khó bù trừ cho viễn thị bằng cách điều tiết.

Thể thủy tinh của trẻ em rất mềm và đàn hồi, nên một đứa trẻ có thể điều tiết rất nhiều. Nghĩa là một đứa trẻ viễn thị nặng cũng có thể nói rằng không bị khó nhìn (ở xa hoặc gần) – chúng có thể nhìn rõ ở mọi khoảng cách.

Tuy nhiên, đứa trẻ như vậy có thể có các triệu chứng khác bởi vì cơ thể mi phải làm việc quá mức để nhìn được rõ. Những triệu chứng mà một đứa trẻ viễn thị nặng có thể có bao gồm đau hoặc mỏi mắt, dụi mắt, nhìn bị mờ từng lúc, hoặc khó tập trung khi làm công việc nhìn gần. Đứa trẻ viễn thị nặng cũng có thể có một mắt lệch về một phía thay vì nhìn thẳng phía trước (bệnh này được gọi là lác mắt).

Cuối cùng, khi chúng ta già, thể thủy tinh trở thành cứng hoàn toàn và không còn đủ đàn hồi để điều tiết – đây là quá trình lão hóa tự nhiên, và xảy ra ở tất cả mọi người khi đến tuổi 40 hoặc 45. Khi điều này xảy ra thì cơ thể mi dù làm việc thế nào đi nữa cũng không thể thay đổi hình dạng của thể thủy tinh, do đó mắt không thể điều tiết được nữa.

Hầu hết người viễn thị chỉ cần kính để làm việc nhìn gần trong thời gian đầu (bởi vì cần điều tiết nhiều hơn để nhìn các vật ở gần hơn là ở xa). Tuy nhiên, khi tuổi giàu hơn, nhiều người viễn thị có thể cần kính cho cả nhìn xa. Bởi vì khi già hơn, chúng ta có điều tiết ít hơn và ngay cả mức độ nhỏ của điều tiết cần để cho người viễn thị nhẹ hoặc trung bình nhìn xa rõ, cũng là quá nhiều.

NGƯỜI VIỄN THỊ NHÌN THẾ NÀO

Viễn thị nhẹ

Viễn thị nhẹ:
Có thể nhìn xa rõ và nhìn gần rõ, nhưng có thể bị mỏi mắt và đau đầu.

viễn thị trung bình

Viễn thị trung bình:
Nhìn gần mờ nhưng nhìn xa rõ.

Viễn thị nặng

Viễn thị nặng:
Cả nhìn xa và nhìn gần đều mờ (nhìn gần mờ nhiề

Hình 3: Người viễn thị nhẹ, trung bình nặng nhìn thế nào.
 

ĐIỀU CHỈNH VIỄN THỊ: Viễn thị được chỉnh bằng kính cầu lồi (hoặc kính cầu “cộng”).
Khi chỉnh viễn thị, chúng ta làm giảm điều tiết của mắt bằng cách dùng kính cầu cộng.

Mắt của một người trẻ viễn thị 4.00 D đang điều tiết 4.00 D; tiêu điểm ở trên võng mạc và nhìn xa rõ

Hình 4: Mắt của một người trẻ viễn thị 4.00 D đang điều tiết 4.00 D; tiêu điểm ở trên võng mạc và nhìn xa rõ.
Trong trường hợp này (Hình 4), nếu người này dưới 20 tuổi, bạn có thể chỉ cho kính chỉnh một nửa độ khúc xạ (do đó +2.00 D – như trong Hình 5) bởi vì người này trẻ và vẫn có điều tiết tốt.

Vẫn mắt trên với kính +2.00 D đặt trước mắt. Bây giờ mắt chỉ có điều tiết 2.00 D để nhìn xa rõ

Hình 5: Vẫn mắt trên với kính +2.00 D đặt trước mắt. Bây giờ mắt chỉ có điều tiết 2.00 D để nhìn xa rõ. Điều này sẽ làm cho mắt bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn, đặc biệt khi nhìn gần, bởi vì mắt không phải điều tiết nhiều.

Nếu người này 30 tuổi hoặc hơn, bạn có thể cho toàn bộ +4.00 D (như trong Hình 6) vì khả năng điều tiết đã giảm.

Vẫn mắt trên với kính, nhưng bây giờ có kính +4.00 D ở trước mắt. Mắt hoàn toàn không phải điều tiết để nhìn xa rõ

Hình 6: Vẫn mắt trên với kính, nhưng bây giờ có kính +4.00 D ở trước mắt. Mắt hoàn toàn không phải điều tiết để nhìn xa rõ.

Điều chỉnh toàn bộ độ viễn thị không cần thiết trong tất cả các trường hợp. Người trẻ thường thấy dễ chịu hơn nếu chỉ chỉnh một phần viễn thị và vẫn có một phần điều tiết được dùng, bởi vì mắt đã quen điều tiết. Đôi khi chỉnh toàn bộ viễn thị là không tốt bởi vì một người trẻ có thể bị nhìn mờ ở xa với kính chỉnh toàn bộ – đơn giản bởi vì họ không thể giãn toàn bộ điều tiết. Trong Hình 5 là một thí dụ chỉnh một phần viễn thị. 

Khi người viễn thị đến tuổi già và điều tiết kém đi, cần dùng một kính cộng công suất cao hơn để cho mắt nhìn rõ.

Đến khoảng 60 tuổi, điều tiết còn ít hoặc hoàn toàn không còn điều tiết, do đó cần chỉnh toàn bộ viễn thị (Hình 6).

LÁC TRONG
DO VIỄN THỊ:

Mặc dù chúng ta đã nói rằng điều chỉnh toàn bộ viễn thị có thể không cần cho tất cả những người trẻ, đôi khi lại rất cần chỉnh toàn bộ độ viễn thị – ngay cả ở những người trẻ.
Viễn thị ở trẻ em có thể làm cho một mắt lệch vào trong. Bệnh này có nhiều tên gọi:

 - Lác qui tụ

 - Lác trong

Nếu chỉnh toàn bộ viễn thị ở những trẻ em này thì sẽ làm giãn điều tiết và làm cho mắt nhìn thẳng – nhưng thường cần có thêm điều trị khác.

ghi chú

Trẻ em có mắt nhìn không thẳng (một mắt có thể lệch vào trong, ra ngoài, lên trên hoặc xuống dưới), bao giờ cũng cần được gửi cho một bác sĩ chuyên về lác.

Điều quan trọng là những trẻ này cần phải được điều trị ngay từ khi chúng còn rất nhỏ, do đó cần chuyển đi khám mắt ngay.

Nếu điều trị muộn, bệnh có thể trở thành vĩnh viễn.
 

Trẻ em có điều tiết mạnh và thường không giãn được điều tiết ngay cả khi cố gắng. Để kiếm tra viễn thị ở trẻ em, cần làm giãn hoàn toàn điều tiết, do đó bác sĩ sẽ dùng một thuốc nhỏ mắt đặc biệt gọi là “thuốc liệt điều tiết”. Các thuốc nhỏ mắt này sẽ làm liệt cơ thể mi trong nhiều giờ để đứa trẻ không thể điều tiết và có thể đo được toàn bộ viễn thị.

Chú ý: Không phải tất cả các trường hợp lác mắt đều do viễn thị không được chỉnh kính, do đó kính không có tác dụng cho tất cả các trường hợp lác mắt.

Một đứa trẻ có lác mắt cần được gửi cho bác sĩ chuyên về lác

Hình 7: Một đứa trẻ có lác mắt cần được gửi cho bác sĩ chuyên về lác.
2. CẬN THỊ


CẬN THỊ LÀ GÌ?
 
Khi các tia sáng từ một vật ở xa (6m hoặc hơn) hội tụ ở trước võng mạc của một mắt không điều tiết, chúng ta nói rằng mắt cận thị, hoặc người bị cận thị. Cận thị đôi khi còn được gọi là “mắt nhìn gần”.
Trong Hình 8 bạn có thể thấy rằng các tia sáng song song từ một vật ở xa hội tụ vào một tiêu điểm trước khi đến võng mạc. Các tia sáng phân kì khi đến võng mạc. Nghĩa là nhìn xa không kính sẽ mờ.

Tiêu điểm ở trước võng mạc của mắt cận thị không điều tiết.
Hình 8: Tiêu điểm ở trước võng mạc của mắt cận thị không điều tiết.

NGUYÊN NHÂN CỦA CẬN THỊ:
 
Cận thị có thể do:
Mắt dài hơn bình thường được gọi là cận thị do trục)
Giác mạc và/hoặc thể thủy tinh cong nhiều quá, do đó công suất quá cao (được
gọi là cận thị do khúc xạ).

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU TIẾT
ĐỐI VỚI CẬN THỊ:

 

Điều tiết không có ảnh hưởng đến cận thị.

Người viễn thị có thể điều tiết để nhìn xa rõ. Vậy thì tại sao điều tiết không giúp người cận thị nhìn xa rõ?

Nếu nhìn vào các Hình 2 và 4, bạn có thể thấy rằng khi mắt viễn thị điều tiết, tiêu điểm di chuyển lại gần thể thủy tinh hơn. Điều tiết chỉ tác dụng theo hướng này.

Bây giờ nhìn vào các Hình 9 và 10. Bạn có thể thấy rằng khi mắt cận thị điều tiết khi nhìn một vật ở xa, tiêu điểm di chuyển ra xa võng mạc hơn. Vòng nhòe trên võng mạc sẽ mờ hơn, do đó người cận thị nếu điều tiết sẽ không nhìn rõ hơn.

Mắt cận thị không điều tiết: tiêu điểm ở trước võng mạc

Hình 9: Mắt cận thị không điều tiết: tiêu điểm ở trước võng mạc.

Mắt cận thị có điều tiết: tiêu điểm ở xa võng mạc hơn

Hình 10: Mắt cận thị có điều tiết: tiêu điểm ở xa võng mạc hơn.


TRIỆU CHỨNG CỦA CẬN THỊ KHÔNG ĐƯỢC CHỈNH KÍNH:
 

Cận thị thường được gọi là “tật nhìn gần”. Lí do là vì người cận thị nhìn gần rõ hơn nhìn xa, dù ở tuổi nào.

Những người cận thị thường than phiền nhìn xa mờ, hoặc nói rằng họ không nhận ra người ở xa. Họ có thể nói cho bạn, hoặc bạn nhận thấy, rằng họ nhìn rõ hơn khi nheo mắt.

Người cận thị thường thấy thị lực kém hơn trong đêm hoặc ở nơi ánh sáng yếu.
 

NGƯỜI CẬN THỊ NHÌN THẾ NÀO:

Cận thị nhẹ
Cận thị nhẹ:
Nhìn xa mờ,nhưng nhìn gần tốt.

 
Cận thị trung bình
Cận thị trung bình:
Nhìn xa mờ,nhưng nhìn gần tốt.

 
Cận thị nặng
Cận thị nặng:
Cả nhìn xa và gần đều mờ (nhìn xa mờ hơn nhìn gần).

 

Hình 11: Thị lực của người cận thị nhẹ, trung bình và nặng.

ĐIỀU CHỈNH CẬN THỊ: Kính cầu lõm (hoặc kính cầu trừ) chỉnh cận thị. 3 hình tiếp theo sẽ giải thích kính cầu trừ chỉnh cận thị thế nào.
 

ĐIỀU CHỈNH CẬN THỊ:

Mắt cận thị -10.00 D không điều tiết đang nhìn một vật ở xa. Tiêu điểm ở trước võng mạc. Các tia sáng phân kì khi đến võng mạc, do đó nhìn xa bị mờ
Hình 12: Mắt cận thị -10.00 D không điều tiết đang nhìn một vật ở xa. Tiêu điểm ở trước võng mạc. Các tia sáng phân kì khi đến võng mạc, do đó nhìn xa bị mờ.


Vẫn mắt trên nhưng bây giờ đang nhìn một vật ở cách mắt 10 cm.Tiêu điểm ở trên võng mạc do đó nhìn gần rõ.Mắt này sẽ nhìn rõ các vật ở cách 10 cm hoặc gần hơn.
Hình 13: Vẫn mắt trên nhưng bây giờ đang nhìn một vật ở cách mắt 10 cm.Tiêu điểm ở trên võng mạc do đó nhìn gần rõ.Mắt này sẽ nhìn rõ các vật ở cách 10 cm hoặc gần hơn.

Vẫn mắt trên nhưng bây giờ đang nhìn một vật ở xa qua một kính–10.00 D.

Hình 14: Vẫn mắt trên nhưng bây giờ đang nhìn một vật ở xa qua một kính10.00 D. Có thể thấy rằng kính 10.00 D phân kì các tia sáng trước khi đến mắt– như thể chúng đến từ một điểm ở cách mắt 10 cmĐây cũng chính là điểm mà mắt cận thị không kính nhìn rõ vật ở gầnDo đó với một kính –10.00 D, mắt cận thị này sẽ nhìn rõ ở xa.
 


DỰ TÍNH CÔNG SUẤT KÍNH CẦN THIẾT CHO MẮT CẬN THỊ:
 

Thị lực không kính của một người trẻ cận thị sẽ hoàn toàn tốt khi vật ở một khoảng cách nhất định và cả khi vật ở gần hơn khoảng cách này. Nhưng sẽ mờ ở bất kì khoảng cách nào xa hơn khoảng này. Bảng dưới đây có thể dùng để tính công suất kính cần thiết để nhìn rõ ở xa.
Bảng 1: Khoảng cách mà một mắt cận thị có thể nhìn rõ giúp ta tính công suất thấu kính cần thiết.


Có thể nhìn rõ ở khoảng cách này
 

Công suất kính cần thiết để nhìn rõ ở cách 6 m
 
2m -0.50D
1m -1.00D
66cm -1.50D
50cm -2.00D
40cm -2.50D
33cm -3.00D
25cm -4.00D
20cm -5.00D
10cm -10.00D

 

ghi chú Cần nhớ:
Một “vật ở xa” nghĩa là ở cách mắt 6m hoặc hơn.

Từ bảng này chúng ta có thể tính ra rằng nếu một người có thể thấy rõ một vật ở cách:
1 m và gần hơn thì có thể cần 1.00 D để nhìn rõ một vật ở xa.
50 cm và gần hơn thì có thể cần 2.00 D để nhìn rõ một vật ở xa.
25 cm và gần hơn thì có thể cần 4.00 D để nhìn rõ một vật ở xa.

ghi chú Nếu đưa vật lại gần hơn và đo khoảng cách mà người cận thị nói bắt đầu nhìn rõ, bạn có thể dùng bảng trên để tính công suất kính trừ cần thiết.

Bạn cần phải khám khúc xạ cho một người để có công suất kính chính xác cho họ thị lực tốt nhất

TÍNH: KHOẢNG CÁCH MẮT CẬN THỊ CÓ THỂ NHÌN RÕ:

Nếu bạn không muốn dùng bảng và muốn tự tính tật khúc xạ thì có thể dùng công thức sau:
F = 100/f

trong đó f = khoảng cách (đo bằng cm) và F = công suất thấu kính (đo bằng D)
Thí dụ:
Một cậu bé có thể nhìn rõ nếu các vật ở cách mắt 40 cm hoặc gần hơn. Bạn tính được tật khúc xạ của cậu bé này là bao nhiêu?

F = 100/f = 100/40 = 2.50 D

Từ triệu chứng bạn biết rằng cậu bé bị cận thị, do đó cần một kính cầu trừ để chỉnh tật khúc xạ. Công suất kính cần thiết để cho cậu bé nhìn xa rõ sẽ là
khoảng 2.50 D.


CẬN THỊ BỆNH LÍ:
 

Nhãn cầu của người cận thị thường dài hơn (và to hơn) của người bình thường. Mắt cận thị nặng đôi khi phát triển dài hơn mắt bình thường nhiều đến mức củng mạc và võng mạc bị căng ra.

Vì lí do này, một số mắt cận thị nặng có củng mạc và võng mạc mỏng. Hiện tượng này được gọi là thoái hóa cận thị. Những mắt thoái hóa cận thị có cận thị bệnh lí và thị lực có thể vẫn kém ngay cả khi cận thị được chỉnh kính. Bởi vì võng mạc đã bị tổn hại. 

Ở một số mắt cận thị, võng mạc bị căng đến mức nó bị rách và bong ra khỏi phần sau của mắt. Hiện tượng này được gọi là bong võng mạc, và nó có thể gây ra mù không hồi phục nếu không được điều trị trong vòng 24 giờ. Triệu chứng của bong võng mạc là bệnh nhân thấy những chớp sáng và/hoặc những chấm đen lơ lửng trước mắt.

ghi chú

Nếu một người nói đột ngột xuất hiện những chớp sáng hoặc những chấm lơ lửng trước mắt thì đó là một cấp cứu mắt.

Những người này cần phải được chuyển ngay cho bác sĩ mắt để điều trị.

Bong võng mạc có thể xảy ra ở bất kì người nào, nhưng thường gặp hơn ở những người cận thị.


LOẠN THỊ LÀ GÌ?
 

Mắt loạn thị có công suất khác nhau ở các kinh tuyến khác nhau.
Điều này làm cho ánh sáng đi vào mắt hội tụ ở các vị trí khác nhau, chứ không phải
vào một điểm.

 

NGUYÊN NHÂN CỦA
LOẠN THỊ:

 

Các bề mặt của giác mạc và của thể thủy tinh là các mặt khúc xạ chính của mắt. Mắt
bình thường (không có tật khúc xạ) cũng như mắt viễn thị và mắt cận thị đều có mặt
khúc xạ cầu. Mặt cầu giống như một quả bóng tròn, và có độ cong bằng nhau ở tất
cả các kinh tuyến trên bề mặt.

 
ghi chú

Ở mắt loạn thị, các mặt khúc xạ của mắt không có độ cong bằng nhau ở tất cả các kinh tuyến.

Các mặt khúc xạ của mắt loạn thị giống như bề mặt của quả bóng bầu dục hoặc quả trứng. Một bề mặt giống như mặt của quả bóng bầu dục hoặc quả trứng – không tròn đều (hoặc cong đều) ở tất cả các hướng – được gọi là một mặt loạn thị.

Mặt loạn thị có 2 kinh tuyến: một kinh tuyến vồng hơn (cong hơn), kinh tuyến kia dẹt hơn (ít cong hơn).

 

Quả bóng có một mặt cầu. Quả bóng bầu dục có một mặt loạn thị

Hình 15: Quả bóng có một mặt cầu. Quả bóng bầu dục có một mặt loạn thị.
2 kinh tuyến của một mặt loạn thị luôn vuông góc với nhau.
Thí dụ:
 Một kinh tuyến có thể ngang (180) và kinh tuyến dọc  (90)
180– 90= 90
Một kinh tuyến có thể ở 45 và kinh tuyến ở 135
135– 45= 90
Nguyên nhân thường gặp nhất của loạn thị là do giác mạc. Bởi vì giác mạc là mặt khúc xạ chính của mắt.

Giác mạc này không phải hình cầu, do đó nó không hội tụ ánh sáng vào một điểm và gây ra loạn thị.

Hình 16: Giác mạc này không phải hình cầu, do đó nó không hội tụ ánh sáng vào một điểm và gây ra loạn thị.

Vì 2 kinh tuyến của mắt loạn thị có công suất khác nhau, kính chỉnh loạn thị cũng phải có công suất khác nhau ở các kinh tuyến khác nhau. Mỗi kinh tuyến có thể được chỉnh bằng một kính trụ. Thường cần 2 kính trụ (mỗi kính cho một kinh tuyến), và 2 kính trụ này được ghép vào nhau để tạo thành một kính cầu-trụ duy nhất.

ghi chú

Đôi khi sẽ dễ hơn nếu hình dung mắt loạn thị đơn giản như là một quả bóng được bóp vào một chút. 

Người loạn thị thường có mặt giác mạc cong không đều, nhưng nếu nhìn bên ngoài thì không thấy rõ. Những dụng cụ đặc biệt có thể đo được độ cong giác mạc không đều, nhưng nếu chỉ nhìn vào mắt loạn thị thì thấy nó vẫn tròn đều như mắt bình thường.

Bởi vì chỉ cần mức độ rất nhỏ độ cong giác mạc bất thường cũng gây ra loạn thị đáng kể.


TRIỆU CHỨNG CỦA MẮT LOẠN THỊ KHÔNG ĐƯỢC CHỈNH KÍNH
 
Người loạn thị có thể không nhìn rõ cả xa và gần, bởi vì không có khoảng cách nào tạo được ảnh võng mạc rõ nét. Đặc biệt ở những người già và người loạn thị nặng. Nếu độ loạn thị nhẹ và người trẻ, thị lực không kính có thể ổn cả xa lẫn gần (nhưng vẫn không hoàn hảo). Tuy nhiên, trong trường hợp này, người loạn thị trẻ thường có mỏi mắt hoặc đau đầu. Bởi vì người trẻ có điều tiết mạnh và thường cố dùng điều tiết để bù trừ cho thị lực kém (tuy nhiên, dùng điều tiết để bù trừ cho loạn thị sẽ không tác dụng và thị lực vẫn kém).
ghi chú

Cần nhớ:
Khi điều tiết, người ta không biết được rằng mắt mình đang điều tiết. 

Người trẻ loạn thị cố nhìn rõ bằng cách điều tiết và điều đó được thực hiện trong tiềm thức. Họ không biết được rằng đang làm cho cơ thể mi mỏi do điều tiết quá mức.

ghi chú Người loạn thị nặng thường khó nhìn rõ cả xa và gần.

NGƯỜI LOẠN THỊ NHÌN THẾ NÀO

Loạn thị trung bình
Loạn thị trung bình:
Nhìn xa và gần hơi mờ


 

Loạn thị nặng

Loạn thị nặng:
Nhìn xa và gần mờ hơn

 

Hình 17: Người loạn thị trung bình và nặng nhìn thế nào.
 


ĐIỀU CHỈNH LOẠN THỊ:
 

Loạn thị không thể chỉnh bằng kính cầu lồi hoặc kính cầu lõm. Bởi vì khúc xạ của loạn thị không bằng nhau ở tất cả các hướng. Để chỉnh loạn thị, cần phải dùng kính loạn thị. Có 2 loại kính loạn thị – đó là kính trụ và kính cầu-trụ.
Kính trụ:
Kính trụ có công suất chỉ ở một kinh tuyến, trong khi kinh tuyến khác không có công suất. Loại kính này được dùng cho người chỉ có loạn thị đơn thuần (không kèm theo viễn thị hoặc cận thị). Một kính trụ được đặt ở trước mắt ở một góc cụ thể để cho công suất của kính (ở kinh tuyến công suất) phù hợp với kinh tuyến của loạn thị ở mắt.

Một thí dụ của kính trụ là: –2.00 DC x 90

Nghĩa là một kính trụ trừ 2 điốp được đặt ở trục 90 độ.

Kính cầu-trụ:


Có thể xem kính cầu-trụ như là một kính trụ phối hợp với một kính cầu. Nó có công suất khác nhau ở các kinh tuyến khác nhau (khác với kính cầu có cùng một công suất ở tất cả các kinh tuyến của kính).

Một số người có tật khúc xạ bao gồm một phần cầu (viễn thị hoặc cận thị) và một phần loạn thị. Những người này sẽ cần cả kính cầu và kính trụ để chỉnh tật khúc xạ của họ.

May mắn là điều này không có nghĩa là người đó phải đeo 2 mắt kính chồng lên nhau. Kính cầu-trụ là một kính đặc biệt kết hợp cả phần cầu và phần trụ vào một mắt kính. Mặt trước của mắt kính thường là cầu, và mặt sau là trụ.

Để chỉnh loạn thị chính xác, chúng ta phải đảm bảo rằng công suất kính loạn thị là đúng. Chúng ta cũng phải chắc chắn rằng trục của kính loạn thị được đặt ở đúng
góc ở trước mắt, góc này được đo bằng độ (). Góc này phải tương ứng với các kinh tuyến của các mặt loạn thị của mắt, để đảm bảo công suất ở mỗi kinh tuyến của mắt được chỉnh đúng.

Các dụng cụ dùng để đo tật khúc xạ của mắt sẽ có một thang trục với các dấu tương tự ở Hình 18. Chú ý rằng trục của một kính trụ sẽ nằm trong khoảng 0 đến 180. Mặc dù 0  và 180 đều ở cùng một hướng, chúng ta luôn ghi là “180” chứ không ghi “0”.

 

Hình 18: Thang trục để đo loạn thịMặc dù 0 và 180đều ở hướng ngang, chúng ta luôn gọi là 180.

  Thang trục để đo loạn thị.
Hình 18: Thang trục để đo loạn thị.
Mặc dù 0
 và 180đều ở hướng ngang, chúng ta luôn gọi là 180.
 
ghi chú
Một cách tốt để nhớ sự khác nhau giữa “ngang” và “dọc” là ngang tức là theo hướng “chân trời”.
 
 
Thí dụ 1
Một thí dụ của kính cầu-trụ là: +3.25 D / 1.50 DC x 180
Cũng có thể viết là: +3.25 / 1.50 x 180

 
 
Thí dụ 2
Một thí dụ khác của kính cầu-trụ là: 0.50 D / 2.00 DC x 127
Cũng có thể viết là: 0.50 / 2.00 x 127

 
 

Người loạn thị thường khó quen với việc đeo kính mới. Nhất là trong trường hợp lần đầu đeo kính loạn thị hoặc công suất kính thay đổi nhiều.

Một người mới đeo kính loạn thị có thể nói rằng kính làm cho họ chóng mặt hoặc buồn nôn, hoặc mọi vật nhìn bị méo mó. Thí dụ, sàn nhà như bị nghiêng đi hoặc tường trông không thẳng – mặc dù nhìn rõ hơn khi đeo kính. 

Người ta thường thích nghi với kính mới trong vòng 2 tuần. Thời gian này được gọi là giai đoạn thích nghi. Trong giai đoạn này, bệnh nhân cần đeo kính mới càng nhiều càng tốt để cho thích nghi được nhanh hơn.

Đôi khi ban đầu chỉ nên chỉnh một phần loạn thị ở một người loạn thị mới được chẩn đoán. Thị lực có thể không rõ bằng chỉnh toàn bộ loạn thị, nhưng bệnh nhân sẽ thấy dễ chịu hơn với kính mới. Kính chỉnh toàn bộ loạn thị có thể cho ở giai đoạn sau (khi bệnh nhân muốn thay kính mới).

 

Có 2 loại loạn thị:
- Loạn thị đều.
- Loạn thị không đều.
Khi chúng ta gọi là “loạn thị” thì thường có nghĩa là “loạn thị đều”. Loạn thị không đều rất hiếm gặp và thường do một bệnh giác mạc.
Loạn thị không đều thường do chấn thương giác mạc hoặc một bệnh mắt gọi là giác mạc hình chóp.

Mắt loạn thị không đều có 2 kinh tuyến chính không vuông góc với nhau.
Do 2 kinh tuyến chính không vuông góc với nhau nên không thể chỉnh được hoàn toàn bằng kính loạn thị.
Đôi khi TL kém do loạn thị không đều có thể được chỉnh bằng kính tiếp xúc cứng.
Đòi hỏi phải được đặt bởi một người được đào tạo về kính tiếp xúc cứng.

 

3. LÃO THỊ

Khác với cận thị, viễn thị, hoặc loạn thị chỉ có ở một số người, lão thị là một tật khúc xạ xảy ra ở tất cả mọi người khi tuổi già. Lão thị Là do thể thủy tinh cứng dần một cách tự nhiên, làm cho nó khó, và thậm chí không
thể, điều tiết. Lão thị thường bắt đầu xuất hiện sau 40 hoặc 45 tuổi và nặng lên dần cho đến khi khoảng 60 tuổi.

Lão thị được giải thích chi tiết hơn ở các bài khác.

TẬT KHÚC XẠ – THAY ĐỔI THEO THỜI GIAN

Mỗi người đều khác nhau (và thực tế, mỗi mắt mà chúng ta khám cũng khác nhau!), nhưng có một số thay đổi khúc xạ mà chúng ta có thể biết trước được khi tuổi tăng lên.


VIỄN THỊ VÀ TUỔI:
 

Trẻ mới sinh ra thường có viễn thị. 

Viễn thị giảm dần từ khi sinh đến khi 5 tuổi.

Một đứa trẻ thường sẽ cần đeo kính nếu viễn thị trên +3.50 D.

Nếu viễn thị dưới +2.00 D thì không cần cho kính, trừ phi có lác trong – trường hợp này cần phải chuyển cho một bác sĩ chuyên về trẻ em.

Cần có sự quyết định của chuyên gia cho những trường hợp viễn thị giữa +2.00 D và +3.50 D. Nếu bạn không chắc chắn có cho kính cho một đứa trẻ với viễn thị này hay không thì phải chuyển bệnh nhân cho một nhân viên chăm sóc khác.

Những người dưới 30 tuổi có thể chỉ cần chỉnh một phần độ viễn thị. Người trẻ viễn thị thường chỉ cần đeo kính cho các công việc nhìn gần.

Triệu chứng của viễn thị nặng lên khi tuổi tăng thêm. Bởi vì điều tiết của mắt giảm khi tuổi tăng lên (như đã giải thích ở trên).


THÍ DỤ:
 
Hãy hình dung 4 người có viễn thị +1.00 D – và nghĩ xem người nào cần cho kính:
Người 1 : 8 tuổi. Mặc dù có viễn thị +1.00 D nhưng không có khó khăn khi nhìn bảng đen ở lớp học, không có vấn đề khi đọc sách và viết ở bàn học, và không có triệu chứng mỏi mắt.
Người 2: 19 tuổi, có thể nhìn rõ ở xa và gần, nhưng than phiền đau đầu và đau mắt sau khi đọc sách trong một thời gian.
Người 3: 32 tuổi, nói rằng không còn nhìn rõ để khâu vá, tuy nhiên người này không có khó khăn khi xem TV, thậm chí ngay cả khi nó đặt ở xa.
Người 4: 57 tuổi, không thể nhìn rõ để đọc sách, và không thể nhận ra người quen ở ngoài phố bởi vì mắt nhìn quá mờ ở cả gần và xa.
 

Một số người già có viễn thị trở nên ít viễn thị hơn nếu họ bắt đầu bị đục thể thủy tinh. Bởi vì đục thể thủy tinh có thể làm tăng công suất hội tụ của thể thủy tinh. Hiện tượng này đôi khi được gọi là “thị lực hồi sinh”. 

Đáng tiếc là sự cải thiện thị lực này chỉ là tạm thời – vì đục thể thủy tinh tiếp tục phát triển, thị lực lại kém đi. Khi điều này xảy ra, bệnh nhân sẽ cần phẫu thuật để mắt sáng trở lại.

Ngày nay, trong phẫu thuật thể thủy tinh, phẫu thuật viên thường lấy bỏ thể thủy tinh đục và thay thế bằng một kính nội nhãn. 

Trước khi có kính nội nhãn, phẫu thuật viên thường chỉ lấy đi thể thủy tinh mà không có gì đặt vào để thay thế. Việc này làm cho bệnh nhân bị viễn thị rất cao (khoảng +11 .00 hoặc +12.00 D). Một bệnh nhân không còn thể thủy tinh và không có kính nội nhãn được gọi là người không có thể thủy tinh. 

Không có thể thủy tinh cũng có thể do bị chấn thương hoặc tai nạn.

Người không có thể thủy tinh sẽ cần kính cộng công suất rất cao để chỉnh viễn thị nặng.


CẬN THỊ VÀ TUỔI:
 

Rất hiếm trẻ em dưới 5 tuổi có cận thị. 

Cận thị thường bắt đầu ở tuổi thiếu niên (13 đến 16 tuổi) và tăng dần đến khi 25 - 30 tuổi. Cận thị thường không tăng lên hơn –3.00 hoặc –4.00 D nhưng đôi khi cận thị tiếp tục tăng lên –10.00 hoặc -15.00D hoặc hơn

Một số người già trở thành cận thị khi bắt đầu bị đục thể thủy tinh, và cận thị này có thể tăng khi đục thể thủy tinh nặng hơn. Bởi vì đục thể thủy tinh phát triển có thể làm tăng công suất hội tụ của thể thủy tinh. Sự thay đổi này đôi khi được gọi là chuyển hướng cận thị”.

Trong trường hợp này, chỉnh cận thị sẽ cải thiện thị lực xa trong thời gian đầu, nhưng khi đục thể thủy tinh nặng hơn thì thị lực sẽ kém đi ngay cả khi đeo kính chỉnh tốt nhất. Khi điều này xảy ra bệnh nhân sẽ cần phẫu thuật để nhìn tốt hơn.

Cận thị có liên quan chặt chẽ với di truyền. Một đứa trẻ dễ bị cận thị hơn nhiều nếu có cha mẹ hoặc anh chị bị cận thị.


LOẠN THỊ
VÀ TUỔI:

 
Loạn thị không thay đổi nhiều theo tuổi như viễn thị hoặc cận thị.
Nếu chỉ loạn thị nhẹ thì có thể không cần đeo kính. Điều này đặc biệt đúng nếu bệnh nhân trên 40 tuổi và có chưa bao giờ đeo kính loạn thị. Đôi khi loạn thị nhẹ có thể gây đau đầu và/hoặc mỏi mắt ở người trẻ – trong trường hợp này, kính có thể có ích.
Ở một số nước, khó có được kính cầu-trụ. Trong trường hợp này bệnh nhân có thể dùng kính cầu cho thị lực tốt nhất, ngay cả khi thị lực không tốt bằng với kính cầu-trụ.
Loạn thị (đặc biệt loạn thị nặng) có thể di truyền. Một đứa trẻ dễ bị loạn thị hơn nếu bố mẹ hoặc anh chị em bị loạn thị.

LÃO THỊ
VÀ TUỔI:

 
Lão thị chỉ ảnh hưởng đến người già, và thường chỉ bắt đầu sau tuổi 40.Trẻ em bình thường hoặc thanh niên không bao giờ bị lão thị.

TÓM TẮT – VIỄN THỊ, CẬN THỊ VÀ LOẠN THỊ

1. VIỄN THỊ
Định nghĩa viễn thị:

- Ở mắt viễn thị không điều tiết, ánh sáng từ một vật ở xa hội tụ sau võng mạc.

Nguyên nhân của viễn thị:

Viễn thị do trục – mắt ngắn hơn bình thường.
- Viễn thị do khúc xạ – giác mạc và/hoặc thể thủy tinh dẹt quá (không đủ độ cong), do đó công suất hội tụ thấp.

Điều tiết và viễn thị:

- Người viễn thị có đủ điều tiết có thể bù trừ cho viễn thị để mắt nhìn rõ.

Triệu chứng của viễn thị:

Triệu chứng của viễn thị thay đổi tùy theo:

- Mức độ điều tiết có thể dùng (tuổi bệnh nhân); và
- Mức độ viễn thị của bệnh nhân.

- Triệu chứng bao gồm:

- Nhìn mờ (nhìn gần kém hơn nhìn xa).
- Đau đầu.
- Mỏi mắt
-Kém tập trung.
- Không muốn làm việc nhìn gần.

Viễn thị nhẹ:

Có thể điều tiết đủ để nhìn xa và nhìn gần đều rõ.
- Có thể có triệu chứng mỏi mắt.

Viễn thị trung bình:

Nhìn gần mờ và nhìn xa rõ.

Viễn thị nặng:

- Nhìn gần và nhìn xa đều mờ
- Nhìn gần kém hơn nhìn xa.

Tuổi và viễn thị:

Triệu chứng của viễn thị nặng lên khi tuổi tăng thêm.

Điều chỉnh viễn thị:

- Chỉnh bẳng kính cầu cộng (kính cầu lồi).
- Tùy theo tuổi và độ viễn thị, một số người viễn thị có thể không cần đeo kính hoặc chỉ cần kính nhìn gần, hoặc có thể chỉ cần chỉnh một phần.

Biến chứng của viễn thị:

- Viễn thị nặng có thể gây lác trong.
- Một đứa trẻ bị lác trong bao giờ cũng cần chuyển khám bác sĩ.

2. CẬN THỊ
Định nghĩa cận thị:

Ở cận thị, ánh sáng từ một vật ở xa hội tụ ở trước võng mạc.

Nguyên nhân của cận thị:

- Cận thị do trục – mắt dài hơn bình thường.

Cận thị do khúc xạ – giác mạc và/hoặc thể thủy tinh quá cong và do đó công suất hội tụ quá mạnh.

Điều tiết và cận thị:

- Điều tiết không làm tăng thị lực ở người cận thị.

Triệu chứng của cận thị:

Người cận thị nhìn xa mờ.
Người cận thị nặng cũng có thể nhìn gần mờ (nhưng nhìn xa bao giờ cũng mờ hơn so với nhìn gần).
Người cận thị thường thấy nhìn kém về đêm hoặc ở nơi thiếu sáng.

Điều chỉnh cận thị:

Chỉnh bằng kính cầu trừ (kính cầu lõm).

Biến chứng của cận thị:

Cận thị bệnh lí: người cận thị nặng có thể có củng mạc mỏng và biến đổi ở võng mạc. Thị lực có thể kém ngay cả khi cận thị được chỉnh bằng kính.
- Bong võng mạc: nếu bệnh nhân đột ngột thấy những chớp sáng và những chấm đen trước mắt thì có thể bị bong võng mạc – chuyển ngay cho bác sĩ!

3. LOẠN THỊ

Định nghĩa loạn thị:

Mắt có loạn thị có công suất khác nhau ở các kinh tuyến. Điều này làm cho ánh sáng đi vào mắt hội tụ ở các vị trí khác nhau chứ không phải một điểm.
Loạn thị có thể đơn thuần, hoặc ở một mắt có một tật khúc xạ khác.

Nguyên nhân của loạn thị:

Mắt loạn thị không có độ cong bằng nhau ở các kinh tuyến.
Có thể tưởng tượng giác mạc của mắt loạn thị có hình dạng giống như bề mặt một quả bóng bầu dục hoặc quả trứng (được gọi là mặt loạn thị) – mặc dù nếu nhìn vào mắt một người loạn thị thì nó có vẻ tròn.
Mắt loạn thị có 2 kinh tuyến vuông góc với nhau.

Điều tiết và loạn thị:

Nếu mức độ điều tiết ít và người trẻ, mắt điều tiết để cố làm cho nhìn rõ hơn. Điều này có thể gây mỏi mắt và/hoặc đau đầu.

Triệu chứng của loạn thị:

Nhìn xa và gần có thể đều mờ.
Nhìn có thể rõ nhưng bệnh nhân có thể bị mỏi mắt hoặc đau đầu – đặc biệt ở những người trẻ chỉ có loạn thị nhẹ.

Điều chỉnh loạn thị:

Chỉnh bằng kính loạn thị.
Kính loạn thị có thể là kính trụ hoặc hoặc kính cầu-trụ.
Kính trụ chỉnh những mắt chỉ có loạn thị.
Kính cầu-trụ chỉnh những mắt loạn thị kèm theo tật khúc xạ khác.
Trục của kính loạn thị phải đúng để cho thị lực tốt.
Người loạn thị thường khó quen khi đeo kính mới. Người ta thường cần 2 tuần để thích ứng với kính mới.

Đôi khi chỉ nên chỉnh một phần loạn thị đối với một người loạn thị mới được chẩn đoán để giúp họ thích nghi với kính.

Loạn thị không đều:

Có 2 loại loạn thị:

- Loạn thị đều

- Loạn thị không đều

Khi chúng ta gọi là “loạn thị” thì thường có nghĩa là loạn thị đều.

Loạn thị không đều rất hiếm gặp và thường do:

- Chấn thương giác mạc, hoặc

- Giác mạc hình chóp.

Các kinh tuyến chính của mắt loạn thị không đều không vuông góc với nhau

- Nghĩa là loạn thị không đều không thể chỉnh được hoàn toàn bằng kính loạn thị.

Đôi khi kính tiếp xúc cứng được dùng để chỉnh loạn thị không đều

- Kính tiếp xúc cứng phải được đặt bởi một người có chuyên môn.


4. LÃO THỊ

Định nghĩ lão thị

- Lão thị xảy ra ở tất cả mọi người khi tuổi già – nó thường bắt đầu ảnh hưởng đến nhìn gần ở sau tuổi 40.
- Nguyên nhân là do sự cứng dần tự nhiên của thể thủy tinh khiến cho điều tiết khó khăn hơn.
- Chi tiết hơn về lão thị sẽ được đề cập ở bài sau.

Tật khúc xạ, thay đổi theo thời gian

- Tật khúc xạ thường di truyền.
- Triệu chứng của viễn thị nặng lên khi tuổi tăng thêm.
- Người trẻ viễn thị có thể chỉ cần chỉnh một phần.
- Đục thể thủy tinh có thể làm cho mắt chuyển hướng cận thị (tăng độ cận thị hoặc giảm độ viễn thị).
- Cận thị thường xuất hiện ở tuổi trẻ, và thường tăng trong khoảng tuổi 12 đến 30.
- Loạn thị không thay đổi theo tuổi.