Thông tin y khoa

Nghiên cứu tình hình tật khúc xạ và các yếu tố liên quan ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Hoàng Hữu Khôi, Nghiên cứu sinh Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế

Võ Văn Thắng, Trường Đại học Y Dược Huế

Hoàng Ngọc Chương, Trường Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ mắc các bệnh tật khúc xạ và các yếu tố liên quan của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Đà Nẵng

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang trên đối tượng là 1539 học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả: Qua nghiên cứu 1539 học sinh, chúng tôi có được kết quả: tỷ lệ giảm thị lực chung do tật khúc xạ là 39,8%. Trong các tật khúc xạ thì cận thị chiếm đa số với tỷ lệ 93,5%, loạn thị chiếm tỷ lệ 3,9% và viễn thị chiếm tỷ lệ 2,6%. Tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh Trung học cơ sở ở thành thị là 58,7% và ở nông thôn là 16,7%. Điều kiện ánh sáng và kích thước bàn ghế lớp học không đạt tiêu chuẩn có liên quan chặt chẽ đến tật khúc xạ học sinh. Có môi liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ tật khúc xạ với thời gian sử dụng máy vi tính và chơi điện tử. Học sinh thường xuyên hoạt động thể thao ngoài trời có tỷ lệ tật khúc xạ thấp hơn các học sinh khác. Kết luận: Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS là 39,8%, học sinh ở thành thị có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao hơn học sinh ở vùng nông thôn. Có mối liên quan giữa thời gian sử dụng máy vi tính, thời gian xem ti vi và hoạt động thể thao ngoài trời với tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh.

Từ khóa: tật khúc xạ, yếu tố liên quan

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay ước tính có khoảng 333 triệu người trên Thế giới bị mù hoặc khuyết tật về thị giác. Gần một nửa trong số này, tức là khoảng 154 triệu người đang bị tật khúc xạ nhưng chưa được điều trị, trong đó có hơn 13 triệu là trẻ em [4]. Tật khúc xạ nếu không được khám phát hiện và can thiệp kịp thời, thị lực kém sẽ làm giảm khả năng học tập, ảnh hưởng tới mặt thể chất, tinh thần của học sinh, ngoài ra có thể gây nhược thị [4].

Việt Nam là một trong những nước có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh, nhất là học sinh ở các thành thị. Theo PGS.TS. Đỗ Như Hơn, Giám đốc Bệnh Viện Mắt Trung ương, tỷ lệ tật khúc xạ học đường ở nước ta hiện nay chiếm khoảng từ 40-50 % ở học sinh thành phố và từ 10-15% ở học sinh Nông thôn [4].

Để xác định chính xác tỷ lệ tật khúc xạ và các yếu tố liên quan ở học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu tình hình tật khúc xạ và các yếu tố liên quan ở học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”  nhằm mục tiêu:

- Xác định tỷ lệ mắc các bệnh tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Đà Nẵng

- Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan tật khúc xạ học đường ở học sinh Trung học cơ sở thành phố Đà Nẵng

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Cơ sở vật chất và điều kiện lớp học: bàn ghế, ánh sáng lớp học.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.1. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

 - Cỡ mẫu áp dụng công thức. 

         Công thức chọn mẫu

n: là cỡ mẫu cần thiết

p: là tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh Đà Nẵng, theo kết quả nghiên cứu trước là 32% [63].

SE : hệ số thiết kế

Với mức tin cậy 95% có hệ số

c: là mức chính xác mong muốn (sai số chọn): chấp nhận c = 0,05.

Thay số vào ta có:

Số liệu điều tra trên 02 vùng thành thị và Nông thôn nên cỡ mẫu là 668 x 2 = 1336.

Thêm 10% sai số và làm tròn, cỡ mẫu là:1336 + 133 = 1469 ≈ 1500

            Vậy cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 1500 học sinh, trên thực tế để đề phòng mất mẫu chúng tôi đã chọn số học sinh nghiên cứu là 1539 học sinh.

- Kỹ thuật chọn mẫu:

            Quần thể nghiên cứu là các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được chia theo 2 vùng địa lý là: Thành thị và Nông thôn, chúng tôi chọn quận Hải Châu là quận nằm ở trung tâm thành phố đại diện cho thành thị và huyện Hòa Vang đại diện cho vùng Nông thôn, đây là hai quận huyện có tính đại diện rõ rệt theo vùng miền. Sau đó từ số liệu danh sách các trường THCS do phòng giáo dục quận Hải Châu và phòng giáo dục huyện Hòa Vang cung cấp, tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên chọn 4 trường vào nhóm nghiên cứu. Kết quả chọn được 4 trường gồm: Trường THCS Tây Sơn, Trường THCS Trưng Vương thuộc quận Hải Châu và Trường THCS Nguyễn Phú Hường, Trường THCS Trần Quang Khải thuộc huyện Hòa Vang.

Tại mỗi trường lập bảng danh sách các học sinh. Sử dụng phần mềm Epi-Info 7 lập các bảng số ngẫu nhiên tương ứng với từng khối lớp để chọn ra đối tượng nghiên cứu.

2.2.2 Phương tiện nghiên cứu

 Phương tiện khám mắt.

Phương tiện điều tra vệ sinh học đường

 - Phiếu khám mắt.

- Bảng thị lực vòng hở Landolt.

- Hộp thử kính Inami Nhật Bản.

- Máy đo khúc xạ kế tự động.

- Kính sinh hiển vi khám.

- Thuốc liệt điều tiết Cyclogyl 1%.

- Phiếu điều tra phỏng vấn học sinh về cương độ học tập và sinh hoạt

- Phiếu đo các chỉ số vệ sinh học đường.

- Máy đo cường độ ánh sáng Luxmetre.

- Thước đo chiều dài (m).

 

2.3. Phương pháp tiến hành

2.3.1. Khám phát hiện tật khúc xạ

- Khám phát hiện tật khúc xạ: tất cả những học sinh sau khi đo thị lực được xác định giảm thị lực sẽ được thử bằng kính lỗ.

- Nếu sau khi thử thị lực tăng với kính lỗ thì tiến hành nhỏ thuốc liệt điều tiết cyclogyl 1% 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 phút, sau khi tra lần thứ 3 khoảng 20 - 30 phút tiến hành đo khúc xạ bằng máy đo khúc xạ tự động và xác định kết quả tật khúc xạ.

+ Khám mắt đánh giá bán phần trước nhãn cầu, khám vận nhãn, khám lác và các bộ phận phụ cận nhãn cầu.

+ Những học sinh sau khi thử kính lỗ nếu thị lực không tăng sẽ tiến hành khám mắt để phát hiện các bệnh mắt khác gây giảm thị lực (không phải tật khúc xạ).

2.3.2. Đo chỉ số vệ sinh lớp học

- Cường độ chiếu sáng trong lớp học: Đo bằng máy Luxmeter của Nhật. Đo ở 6 vị trí: 1 điểm đo ở giữa phòng học, 4 điểm đo ở các bàn kê ở 4 góc lớp, 1 điểm đo ở giữa bảng. Khi đo mở hết các cửa ra vào và cửa sổ, bật hết các bóng điện trong lớp học.

- Kích thước bàn ghế: Đo chiều cao, chiều dài, chiều sâu của bàn và ghế bằng thước mét có chia đến milimet. Sau đó tính hiệu số giữa bàn và ghế, so sánh với tầm vóc của học sinh.

2.3.3. Điều tra phỏng vấn học sinh

- Phỏng vấn trực tiếp từng học sinh theo mẫu phiếu điều tra về thời gian biểu, hành vi, thói quen, cường độ học tập và sinh hoạt, thời gian dành cho các hoạt động cần nhìn gần như học bài, đọc truyện, xem ti vi, chơi điện tử và thời gian dành cho hoạt động thể dục thể thao ngoài trời.

2.3.4. Tiêu chuẩn đánh giá

- Tật khúc xạ là mắt có số đo bằng máy đo khúc xạ tự động sau nhỏ thuốc liệt điều tiết có độ cầu tương đương (SE = ± 0,50D trở lên và có độ trụ từ 0,75D trở lên).

- Điều kiện vệ sinh lớp học [2]

+ Cường độ chiếu sáng: Đạt là từ 100 - 300 lux, Không đạt là  <100 lux   

+ Hiệu số chiều cao bàn ghế đạt tiêu chuẩn sau :

Học sinh               Loại bàn ghế                      Hiệu số bàn ghế (cm)

Lớp 6                          Loại III                                   21

Lớp 7                          Loại IV                                   23

Lớp 8                          Loại V                                     26

Lớp 9                          Loại VI                                   28

+ Thời gian mắt nhìn gần: là khoảng thời gian dành cho học tập, đọc sách, đọc truyện, xem ti vi, chơi điện tử, sử dụng máy vi tính

+ Thời gian hoạt động ngoài trời: là khoảng thời gian dành cho các hoạt động thể dục thể thao ngoài trời

2.3.5. Chỉ số nghiên cứu

+ Tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ ( cận thị, loạn thị và viễn thị).

+ Tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ theo giới tinh, theo địa dư

+ Tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ theo khối lớp (lớp 6, lớp 7, lớp 8 và lớp 9).

+ Mối liên quan giữa cường độ chiếu sáng với tật khúc xạ học đường.

+ Mối liên quan giữa hiệu số bàn ghế với tật khúc xạ học đường.

+ Mối liên quan giữa thời gian dành cho các hoạt động nhìn gần như xem ti vi, chơi điện tử với tật khúc xạ học đường.

+ Mối liên quan giữa hoạt động thể thao ngoài trời với tật khúc xạ học đường.

2.4. Phân tích và xử lý số liệu

            Ứng dụng phần mềm SPSS 18.0 để xử lý và phân tích số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS thành phố Đà Nẵng

Bảng 3.1. Tỷ lệ hiện mắc tật khúc xạ ở học sinh THCS

Số HS khám

Số mắc TKX

Tỷ lệ mắc TKX %

1539

612

39,8

 

Kết quả trên cho thấy tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh THCS thành phố Đà Nẵng là rất cao (39,8%).

Bảng 3.2 Phân bố tỷ lệ mắc các loại tật khúc xạ

Tật khúc xạ

Số lượng

Tỷ lệ %

Cận thị

572

93,5

Loạn thị

24

3,9

Viễn Thị

16

2,6

Tổng cộng

612

100,0

            Trong các tật khúc xạ thì cận thị chiếm tỷ lệ cao nhất là 93,5%, loạn thị chiếm 3,9% và thấp nhất là viễn thị 2,6%.

Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc tật khúc xạ theo giới tính

Giới tính

Số lượng

Tỷ lệ %

P

Nam

250

40,8

<0,001

Nữ

362

59,2

Tổng cộng

612

100,0

 

 

            Tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở học sinh nữ là 59,2%, cao hơn so với học sinh nam ( 0,8%).

Bảng 3.4. Tỷ lệ tật khúc xạ theo khối lớp học

Khối lớp

Tổng số khám

Số HS bị tật khúc xạ

Tỷ lệ %

Khối 6

610

245

40.2

Khối 7

655

241

36.8

Khối 8

127

63

49.6

Khối 9

147

63

42.9

Tổng

1593

612

39,8

            Học sinh khối lớp 6 và lớp 7 có tỷ lệ tật khúc xạ thấp hơn so với học sinh khối lớp 8 và lớp 9.

Bảng 3.5 Tỷ lệ tật khúc xạ theo địa dư

Địa dư

Số HS khám

Số HS bị TKX

Tỷ lệ %

Thành thị

845

496

58,7

Nông thôn

694

116

16,7

Tổng

1539

612

39,8

            Học sinh thành thị có tỷ lệ tật khúc xạ là 58,7% cao hơn rất nhiều so với học sinh ở vùng nông thôn là 16,7%.

3.2 Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ học sinh THCS

3.2.1 Hành vi, thói quen, cường độ học tập và các hoạt động nhìn gần có nguy cơ mắc tật khúc xạ

Bảng 3.6. Mối liên quan giữa thời gian xem ti vi và tật khúc xạ (giờ/tuần)

 TKX

Thời gian

TKX

Không TKX

OR

CI 95%

p

SL

TL %

SL

TL %

0- 14 giờ

460

42,7

617

57,3

1

-

> 14-21 giờ

79

34,6

149

65,4

0,71

(0,52 – 0,95)

< 0,05

> 21 giờ

73

31,2

161

68,8

0,61

(0,45 – 0,83)

< 0,05

Tổng

612

39,8

927

60,2

 

 

Học sinh có thời lượng xem ti vi càng nhiều thì có nguy cơ mắc tật khúc xạ càng cao. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa sử dụng máy vi tính (chơi game) và tật khúc xạ

Biểu hiện

Có TKX

Không TKX

Tổng TKX

OR

(CI 95%)

n

%

n

%

n

%

423

48,6

447

51,4

870

56,5

p < 0,001

OR=2,4

(1,94 – 3,0

Không

189

28,3

480

71,7

669

43,5

Tổng

612

39,8

927

60,2

1539

100,0

 

Có mối liên quan chặt chẽ giữa việc sử dụng máy vi tính để chơi game của học sinh với tật khúc xạ ( p<0,001). Những học sinh có chơi game có nguy cơ mắc tật khúc xạ cao gấp 2,37 lần so với những học sinh không chơi game.

Bảng 3.8. Mối liên quan giữa thời gian chơi game và tật khúc xạ (giờ/tuần)

Thời gian

TKX

Không TKX

OR

CI 95%

p

SL

TL %

SL

TL %

< 6 giờ

288

33,3

578

66,7

1

-

6 - 10 giờ

135

44,4

169

55,6

1,60

(1,22 – 2,08)

< 0,05

> 10 - 15 giờ

98

48,0

106

52,0

1,86

(1,36 – 2,53)

< 0,001

> 15 giờ

91

55,2

74

44,8

2,50

(1,76 – 3,51)

< 0,001

Tổng

612

39,8

927

60,2

 

 

Học sinh chơi game với thời lượng trên 6 giờ/ tuần có mối liên quan chặt chẽ với tật khúc xạ. Thời gian chơi game càng nhiều nguy cơ mắc tật khúc xạ càng cao. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa những học sinh mắc tật khúc xạ và không mắc tật khúc xạ ở nhóm chơi game từ 6 giờ - 10 giờ (p <0,05 và OR = 1,6), nhóm chơi game từ trên 10 giờ đến 15 giờ (p < 0,001; OR = 1,83) và nhóm chơi game trên 15 giờ/tuần ( p<0,001; OR = 2,46)

Bảng 3.9. Mối liên quan giữa hoạt động thể thao ngoài trời và tật khúc xạ

Biểu hiện

Có tật khúc xạ

Không tật khúc xạ

Tổng

OR

(CI 95%)

n

%

n

%

n

%

307

34,8

575

65,2

882

57,3

p < 0,001

OR=0,61

(0,51 – 0,76)

Không

305

46,4

352

53,6

657

42,7

Tổng

612

39,8

927

60,2

1539

100,0

 

Những học sinh thường xuyên có hoạt động thể thao ngoài trời thì nguy cơ mắc tật khúc xạ giảm 39% (OR=0,61) so với các học sinh không tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời.

3.2.3.  Điều kiện vệ sinh lớp học liên quan đến tật khúc xạ

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa cường độ chiếu sáng và tật khúc xạ

TKX

Chiếu sáng

TKX

Không TKX

Tổng

OR

(CI 95%)

n

%

n

%

n

%

Đạt

378

42,1

520

57,9

898

58,3

p < 0,05

OR = 1,26

(1,03 – 1,56)

Không đạt

234

36,5

407

63,5

641

41,7

Tổng

612

39,8

927

60,2

1539

100

            Có mối liên quan giữa cường độ chiếu sáng lớp học với tật khúc xạ của học sinh. Không đủ ánh sáng nơi ngồi học có nguy cơ bị tật khúc xạ cao gấp 1,26 lần.

Bảng 3.11. Hiệu số chiều cao bàn ghế trung bình tại các trường THCS (cm)

Khối

Trường

Lớp 6

 

Lớp 7

 

Lớp 8

 

Lớp 9

 

Tây Sơn

30,67±3,51

28,0± 0,00

29,33± 3,78

32,33±1,52

Trần Quang Khải

29,67±0,58

30,0±0,00

30,00±0,00

31,00±0,00

Trưng Vương

27,33±5,51

29,67±0,58

30,00±1,00

30,67±0,58

Nguyễn Phú Hường

29,00±0,00

29,0±0,00

31,33±1,15

29,00±0,00

TCVN 2011

21

23

26

28

            Tất cả các trường trong nhóm nghiên cứu đều không đạt tiêu chuẩn về hiệu số bàn ghế. Hiệu số bàn ghế tương đương nhau giữa các trường và giữa các lớp, bàn cao ghế thấp, các lớp càng nhỏ thì độ chênh lệch bàn ghế càng lớn.

4. BÀN LUẬN

4.1 Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS thành phố Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS thành phố Đà Nẵng là rất cao 39,8%. So với các nghiên cứu khác tại Đà Nẵng như Trần Văn Nhật (2004) là 22,58% [5] và Hoàng Ngọc Chương (2012) [1] là 31,9 % thì thấy rằng tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS trong các nghiên cứu tại Đà Nẵng, năm sau đều cao hơn năm trước rất rõ rệt. Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên (2007) tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ học sinh tăng từ 17,2% năm 2002 lên 38,88% năm 2006 [8]. Năm 2006, GS.TS. Tôn Thị Kim Thanh, Giám đốc Bệnh viện Mắt trung ương, công bố tỷ lệ mắc tật khúc xạ của lứa tuổi học đường tại Việt Nam là từ 10-12% ở học sinh nông thôn và từ 17- 25% ở học sinh thành thị [4]. Đến năm 2014,  PGS.TS. Đỗ Như Hơn, phó chủ tịch hội Nhãn Khoa Việt Nam, công bố tỷ lệ mắc tật khúc xạ học sinh ở nước ta là từ 10%-15% ở học sinh nông thôn và từ 40% - 50% ở học sinh thành thị [4]. Như vậy tỷ lệ tật khúc xạ đang tăng dần theo thời gian, năm sau có tỷ lệ cao hơn năm trước. Học sinh tuổi càng lớn thì tỷ lệ tật khúc xạ càng nhiều.

Bảng 4.1. Tỷ lệ tật khúc xạ học đường ở học sinh THCS thành phố Đà Nẵng và một số nghiên cứu khác ở Việt Nam

Tác giả

Năm NC

Địa điểm NC

Mẫu

TL % TKX

Hoàng Văn Tiến [7]

2006

Hà Nội

825

40,6

Lê Thị Thanh Xuyên [8]

2007

TP HCM

2747

46,11

Vũ Quang Dũng [3]

2008

Thái Nguyên

1873

16,8

Nguyễn Thị Hạnh [4]

2010

Hà Nội

245

71,6

Nguyễn Thanh Triết [6]

2012

Bình Định

2086

29,53

Hoàng Ngọc Chương [1]

2012

Đà Nẵng

2173

31,9

Hoàng Hữu Khôi

2013

Đà Nẵng

1539

39,8

Kết quả ở bảng trên cho thấy, nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS thấp hơn so với một số nghiên cứu của các tác giả khác như Hoàng Văn Tiến (2006), Lê Thị Thanh Xuyên (2007) và Nguyễn Thị Hạnh (2010). Điều này có thể do nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên đối tượng học sinh ở cả thành thị và nông thôn nên tỷ lệ tật khúc xạ chung là thấp hơn, trong khi các nghiên cứu của các tác giả trên thực hiện trên đối tượng học sinh ở khu vực trung tâm thành phố Hà Nội và thành Phố Hồ Chí Minh nên tỷ lệ tật khúc xạ là cao hơn, thực tế nhiều nghiên cứu trong đó có nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh học sinh ở thành thị có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao gấp 2 đến 3 lần học sinh ở nông thôn. Trong khi đó so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với một số nghiên cứu ở các địa phương khác như, Nguyễn Thanh Triết (2012) ở Bình Định, Vũ Quang Dũng (2008) ở Thái Nguyên, Hoàng Ngọc Chương (2012) ở Đà Nẵng là 31,9% và Nguyễn Viết Giáp (2013) ở Vũng Tàu là 25,2%, thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại cho kết quả cao hơn. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp vì các nghiên cứu trên đa số là thực hiện trước nghiên cứu của chúng tôi một vài năm, trong khi đó tỷ lệ tật khúc xạ lại tăng dần theo từng năm, năm sau có tỷ lệ tật khúc xạ cao hơn năm trước. Mặt khác so với các nghiên cứu ở Bình Định, Thái Nguyên thì học sinh THCS ở thành phố Đà Nẵng có tỷ lệ tật khúc xạ cao hơn cũng phù hợp với phân bố tỷ lệ tật khúc xạ theo địa dư. Ở Việt Nam học sinh ở các thành phố lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, thường có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao hơn các tỉnh thành khác [4].

Bảng 4.2. Tỷ lệ tật khúc xạ học đường ở học sinh THCS thành phố Đà Nẵng và một số nghiên cứu trên Thế giới

Tác giả

Năm

Lứa tuổi

Địa điểm NC

Mẫu

TL % TKX

Sandra Jobke [18]

2008

12-17

Đức

516

21,0

Jennny M.Ip [14]

2008

12

Australia

2367

17,8

Natban Congdon [16]

2008

14

Trung Quốc

1892

41,2

Lian Hong Pi [15]

2010

6-15

Trung Quốc

3469

37,43

A.Akrami [10]

2012

10-14

Iran

137

34,3

Watanee Jenchitr [19]

2012

10-20

Thái Lan

2097

41,15

Amanda N. Frencb [9]

2012

12-13

Bắc Ai Len

661

46,5

Carly Siu – Yin Lan [11]

2012

12

Hồng Kông

2651

61,5

Fahd Abdullah Al [12]

2013

12-14

 Ả rập Xê Út

235

47,5

Hongmei YI [13]

2014

13-15

Trung Quốc

19.977

45,5

Hoàng Hữu Khôi

2013

11-14

Đà Nẵng

1539

39,8

Kết quả ở bảng trên cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ tương đương với nghiên cứu của Lian Hong Pi (2010), Watanee Jenchitr (2012), A.Akrami, Natban Congdon (2008). Tuy nhiên so với kết quả nghiên cứu của Amanda N. Frencb [9], Carly Siu – Yin Lan [11], Fahd Abdullah Al [12] và Hongmei YI [13], thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi là thấp hơn. Trong khi đó nghiên cứu tại một số quốc gia khu vực Châu Âu, Châu Úc lại cho kết quả thấp hơn của chúng tôi. Điều này hoàn toàn phù hợp với phân bố tỷ lệ tật khúc xạ hiện nay trên thế giới. Ở các nước phát triển như Châu Âu và Autralia, hệ thống giáo dục phát triển, trường lớp đã đạt chuẩn khi xây dựng và chương trình học tập, sinh hoạt của học sinh đã được tính toán cân đối, phù hợp với lứa tuổi học sinh nên giảm thiểu được tỷ lệ tật khúc xạ học đường. Ngược lại ở Việt Nam và các nước đang phát triển ở Châu Á, do điều kiện kinh tế còn khó khăn, hệ thống giáo dục mới chỉ quan tâm đến việc dạy và học chứ chưa quan tâm nhiều đến việc phát triển thể chất học sinh. Vì vậy học sinh phải học tập trong điều kiện môi trường chưa đảm bảo tiêu chuẩn về bàn ghế và ánh sáng lớp học, bên cạnh đó áp lực học tập và sự kỳ vọng của cha mẹ dẫn đến cường độ học tập của học sinh ngày càng cao, ngoài thời gian học ở trường các em phải học thêm ở các nhà thầy cô và các trung tâm, dẫn đến mắt phải làm việc liên tục nhiều giờ trong ngày ở khoảng cách nhìn gần gây mỏi điều tiết và dẫn tới tật khúc xạ. Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh khác nhau ở các vùng miền, các khu vực và các quốc gia khác nhau, tuy nhiên nhìn chung thì tỷ lệ tật khúc xạ hiện nay trên toàn thế giới là rất cao. Vì vậy tật khúc xạ hiện nay không còn là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu trong chương trình phòng chống mù lòa Thế giới, chiến lược “thị giác 2020” về quyền được nhìn thấy.

Kết quả ở bảng 3.2 cho thấy trong số các tật khúc xạ thì cận thị chiếm tỷ lệ cao nhất là 93,5%, loạn thị chiếm 3,9% và thấp nhất là viễn thị 2,6%, kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên (2007), công bố tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS là 46,11% trong đó cận thị chiếm tỷ lệ trên 90% [60]. Nghiên cứu của Ubolrat Nanthavisit RN (2008) và Watanee Jenchitr (2012) ở Thái Lan cho thấy trong số các tật khúc xạ thì cận thị là 92,76% và 92,2% [9]. Khi phân tích đặc điểm tật khúc xạ theo giới tính ở bảng 3.3 chúng tôi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p<0,01) giữa tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh nam và học sinh nữ. Tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở học sinh nữ là 59,2%, cao hơn so với học sinh nam là 40,8%. Kết quả này cũng tương tự một số nghiên cứu khác của các tác giả trong và ngoài nước như Lê Thị Thanh Xuyên (2007) [8], Vũ Quang Dũng (2008) [3], Nguyễn Thanh Triết (2012) [6], Fahd Abdullah (2013) [12], Nathan Congdon (2008) [16] và nhiều tác giả khác trên thế giới đều cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh nữ cao hơn ở các em nam giới. Theo chúng tôi nguyên nhân tật khúc xạ ở học sinh nữ cao hơn nam giới bởi vì học sinh nữ thường sử dụng mắt cho các hoạt đồng cần nhìn gần nhiều như là học bài, đọc truyện, khâu vá, may thêu và các công việc tỉ mỉ cần tập trung trong công việc nhìn gần vì vậy mắt phải điều tiết căng thẳng nên có nguy cơ mắc tật khúc xạ nhiều, trong khi đó ở học sinh nam các em thường hiếu động, ngoài thời gian học em thường tham gia nhiều vào các trò chơi hoạt động thể thao trời sử dụng mắt nhìn xa nhiều nên nguy cơ mắc các tật khúc xạ cũng giảm hơn nhiều so với học sinh nữ.

Kết quả phân tích ở bảng 3.5, cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ giữa học sinh ở thành thị và học sinh nông thôn có sự chênh lệch rất lớn và sự chênh lệch này là có ý nghĩa thống kê với (p<0,01), theo đó kết quả nghiên cứu của chúng tôi học sinh thành thị có tỷ lệ tật khúc xạ là 58,7% và học sinh nông thôn là 16,7%. Thực tế qua các nghiên cứu của tác tác giả ở Việt Nam và trên Thế giới đều cho kết quả tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là cao hơn rất nhiều so với học sinh ở nông thôn. Tai Việt Nam theo Đỗ Như Hơn ( 2014), tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở học sinh nông thôn là từ 10%-15% và ở học sinh thành thị là từ 40% - 50% [4]. Nguyễn Thanh Triết (2012), công bố tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là 34,11% và nông thôn là 15,07% [6], Hoàng Ngọc Chương (2012), tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là 46,3% và nông thôn là 13,9% [1]. Một số nghiên cứu của các tác giả trên Thế giới như Pavithra MB (2013) ở Ấn Độ, Ju-Xiang Jin (2015) ở Trung Quốc, cũng cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là cao hơn rất nhiều so với học sinh ở nông thôn. Tỷ lệ tật khúc xạ học đường ở học sinh thành thị cao hơn ở học sinh nông thôn chứng tỏ rằng môi trường học tập và sinh hoạt là yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh. Theo chúng tôi tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh thành thị cao hơn học sinh nông thôn có thể là do tác động của sự phát triển kinh tế xã hội, học sinh ở các thành phố có chế độ học tập quá căng thẳng, áp lực học tập và cường độ học tập cao hơn học sinh ở các vùng nông thôn, một thực tế chỉ ra rằng học sinh ở thành thị sau giờ học chính khóa ở trường các em thường tham gia nhiều vào các hoạt động nhìn gần như trò chơi điện tử, internet, sử dụng máy vi tính, đọc truyện và học thêm, các hoạt động nhìn gần nhiều giờ liên tục làm cho mắt phải điều tiết quá mức gây nên tật khúc xạ học đường, đặc biệt là tật cận thị. Trong khi đó đối với học sinh ở các vùng nông thôn áp lực và cường độ học tập không nhiều do điều kiện kinh tế còn khó khăn vì vậy sau giờ học các em phải tham gia phụ giúp gia đình làm các công việc đồng áng, tham gia nhiều hoạt động ngoài trời như chơi các trò chơi dân gian giúp giải phóng tầm mắt, giảm điều tiết nên khả năng mắc tật khúc xạ cũng thấp hơn.

4.2 Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ học sinh THCS

4.2.1 Hành vi, thói quen, cường độ học tập và các hoạt động nhìn gần có nguy cơ mắc tật khúc xạ

Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển với su hướng hội nhập và toàn cầu hóa đòi hỏi con người phải chịu áp lực công việc ngày càng nhiều hơn. Học sinh phải chịu áp lực về thành tích học tập và sự kỳ vọng của cha mẹ vào tương lai dẫn đến cường độ học tập và các hoạt động nhìn gần hàng ngày của các em là rất lớn, mắt phải điều tiết liên tục nhiều giờ trong ngày đã dẫn đến tỷ lệ tật mắc khúc xạ của học sinh ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó việc thiếu các sân chơi cho các em hoạt động ngoài trời dẫn tới việc các em phải thường xuyên hoạt động giải trí sau giờ học bằng việc xem ti vi, đọc truyện và chơi game…càng làm cho mắt phải làm việc ở khoảng cách nhìn gần với cường độ nhiều hơn.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về cường độ học tập và thời gian hoạt động nhìn gần, cho thấy rằng học sinh có thời lượng xem ti vi và sử dụng máy vi tinh để chơi game càng nhiều thì nguy cơ mắc tật khúc xạ càng cao. Trong khi đó những học sinh thường xuyên có hoạt động thể thao ngoài trời thì nguy cơ mắc tật khúc xạ giảm 39% so với các học sinh không tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời.

Tại Australia, Jenny M.Ip (2008) nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ của 2353 học sinh trung học cơ sở ở Sydney, cho thấy rằng cường độ làm việc gần kéo dài là yếu tố nguy cơ tật khúc xạ, có mối tương quan giữa việc chơi game với tật khúc xạ và thời gian giành cho hoạt động ngoài trời nhiều sẽ giảm nguy cơ mắc tật khúc xạ. Các học sinh dành 19 giờ /1 tuần cho việc nhìn gần thì tỷ lệ mắc tật khúc xạ là 39,5%, trong khi đó các học sinh dành 4,5 giờ/1 tuần cho công việc nhìn gần thì tỷ lệ mắc tật khúc xạ chỉ là  4,6% [14].

Nhiều tác giả cũng đã chứng minh rằng việc thường xuyên hoạt động thể thao ngoài trời sẽ giảm nguy cơ mắt tật khúc xạ ở học sinh. Nghiên cứu của Manbir Nagra (2014) thực hiện so sánh tỷ lệ tật khúc xạ của hai nhóm học sinh có cùng nguồn gốc là người Trung Quốc sống ở hai môi trường khác nhau, một nhóm sinh sống tại tại Singapore và một nhóm sống tại Australia. Theo đó nhóm học sinh sống tại Singapore dành thời gian 3,05 giờ mỗi tuần cho các hoạt động ngoài trời và nhóm học sinh sống tại Australia dành thời gian 13,75 giờ mỗi tuần cho các hoạt động ngoài trời. Kết quả nhóm học sinh ở Singapore có tỷ lệ tật khúc xạ là 29,1% cao hơn rất nhiều so với nhóm học sinh có cùng độ tuổi, cùng nguồn gốc sống ở Australia có tỷ lệ tật khúc xạ là 3,3%. Điều này chứng minh các hoạt động thể thao ngoài trời làm giảm nguy cơ mắc tật khúc xạ [14].

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa tật khúc xạ học đường với cường độ học tập, thời gian xem ti vi, thời gian chơi điện tử…kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự nghiên cứu của nhiều tác giả khác ở trong nước như Vũ Quang Dũng (2008), Hoàng Văn Tiến (2006), Nguyễn Thị Hạnh (2010). Trong những yếu tố nguy cơ đó, đặc biệt có mối liên quan chặt chẽ giữa việc sử dụng máy vi tính để chơi game của học sinh với tật khúc xạ. Những học sinh có chơi game có nguy cơ mắc tật khúc xạ cao gấp 2,37 lần so với những học sinh không chơi game.

4.2.2. Điều kiện vệ sinh lớp học

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.10, cho thấy cường độ chiếu sáng ở các trường không đạt tiêu chuẩn có liên quan chặt chẽ đến tật khúc xạ hoc sinh. Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác như Hoàng Ngọc Chương (2012), Vũ Quang Dũng (2008). Chúng tôi cho rằng ánh sáng là một yếu tố nguy cơ quan trọng có thể ảnh hưởng đến tật khúc xạ học đường vì nếu suốt buổi học các em học sinh phải ngồi học trong phòng học thiếu ánh sáng, mắt phải điều tiết nhiều để nhìn rõ hơn, gây nhức mỏi mắt liên tục ngày này qua ngày khác sẽ dẫn đến nguy cơ mắc tật khúc xạ là rất cao. Vì vậy trong các giải pháp phòng chống tật khúc xạ học đường, việc chú trọng đến việc cải thiện điều kiện ánh sáng lớp học là hết sức cần thiết.

Ngoài chiếu sáng lớp học, việc sử dụng bàn ghế không đạt tiêu chuẩn theo quy định của từng cấp học cũng được xem là yếu tố nguy cơ mắc tật khúc xạ của học sinh ngày càng tăng cao. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.11 cho thấy 100% các phòng học đều không đạt tiêu chuẩn về hiệu số bàn ghế theo quy định. Kết quả này là tương tự nghiên cứu của tác giả, Hoàng Văn Tiến (2006), Vũ Quang Dũng (2008) và Hoàng Ngọc Chương (2012) đều công bố 100% các trường trong nhóm nghiên cứu đều không đạt tiêu chuẩn về hiệu số bàn ghế [1], [3], [7].

Năm 2000, Bộ Y tế đã ban hành quyết định 1221, trong đó quy định cụ thể kích thước bàn ghế cho từng cấp học và đến năm 2011, liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 26/2011 về hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh. Mặc dù đã có hướng dẫn quy định rất rõ ràng về kích thước và quy cách. Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng như của nhiều tác giả khác, ở các trường phổ thông hiện nay, học sinh các lớp, các khối hầu như đều được trang bị cùng một loại bàn ghế như nhau và do đó, độ chênh lệch chiều cao bàn ghế không phù hợp với lứa tuổi học sinh [2]. Khi hiệu số bàn ghế không đạt tiêu chuẩn dẫn đến bàn cao, ghế thấp hoặc ghế cao, bàn thấp làm cho học sinh không thoải mái khi ngồi học, không đảm bảo khoảng cách từ mắt tới sách vỡ khi đọc và viết làm cho mắt phải nhìn quá gần hoặc quá xa gây mỏi điều tiết trong suốt buổi học và trong suốt quá trình học tại trường dẫn tới nguy cơ mắc tật khúc xạ học đường là rất cao.

5. KẾT LUẬN

            Từ kết quả nghiên cứu về tình hình tật khúc xạ, phân tích các yếu tố nguy cơ ở học sinh trung học cơ sở thành phố Đà Nẵng, chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:

5.1. Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh THCS thành phố Đà Nẵng

            Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh trung học cơ sở thành phố Đà Nẵng là 39,8%. Trong đó cận thị chiếm tỷ lệ cao nhất 93,5%, tiếp đến là loạn thị 3,9% và viễn thị là 2,6%.

            Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh nữ là 59,2%, học sinh nam là 40,8% (p<0,001).

            Tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh thành thị là 58,7%, học sinh nông thôn là 16,7%.

5.2. Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ học sinh THCS

Thời lượng học thêm, thời lượng xem ti vi và sử dụng máy vi tinh, chơi game càng nhiều thì nguy cơ mắc tật khúc xạ càng cao.

Học sinh có thời gian hoạt động ngoài trời trong tuần càng nhiều thì nguy cơ mắc tật khúc xạ càng giảm.

Cường độ ánh sáng và hiệu số bàn ghế tại các trường không đạt tiêu chuẩn có liên quan chặt chẽ với tật khúc xạ của học sinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Ngọc Chương (2012), Nghiên cứu thực trạng đề xuất giải pháp phòng ngừa và triển khai giải pháp can thiệp làm giảm nhẹ tật cận thị ở tuổi học đường. Đề tài cấp thành phố Đà Nẵng.

2. Bộ Y tế (2000), Quyết định số: 1221/2000/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành Quy định về vệ sinh trường học. Ban hành ngày 18 tháng 4 năm 2000, Hà Nội.

3.Vũ Quang Dũng (2008), Nghiên cứu thực trạng tật khúc xạ, yếu tố nguy cơ và hiệu quả của một số giải pháp phòng chống tật khúc xạ học đường tại tỉnh Thái Nguyên, Đề tài cấp Bộ, mã số B2006-TN05-04.

4. Đỗ Như Hơn (2014), Công tác phòng chống mù lòa năm 2012-2013 và phương hướng hoạt động năm 2014, Kỷ yếu Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc 2014, Hà Nội, tr. 6-17.

5. Trần Văn Nhật (2004), Nghiên cứu tình tình cận thị và các yếu tố liên ở học sinh thành phố Đà Nẵng, Luận án chuyên khoa II, Trường Đại học Y Dược Huế.

6. Nguyễn Thanh Triết (2012), Đánh giá tỷ lệ tật khúc xạ và các nguyên nhân giảm thị lực ở học sinh tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định, Kỷ yếu Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc 2012, Hà Nội 12-13/10/2012, tr. 82-86.

7. Hoàng Văn Tiến (2006), Nghiên cứu tình hình cận thị ở học sinh lớp 3, lớp 7, lớp 10 của một số trường phổ thông thuộc quận Hoàn Kiếm Hà Nội và thử nghiệm mô hình can thiệp, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

8. Lê Thị Thanh Xuyên (2007), Chương trình mắt học đường tại thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội nghị Nhãn khoa toàn quốc, Đà Nẵng, tr. 37-42.

9. Amanda N. French, et al. (2012), Comparison of Refraction and Ocular Biometry in European Caucasian Children Living in Northern Ireland and Sydney, Australia, Investigative Ophthalmology & Visual Science, Vol. 53, No. 7.

10. Akrami A., et al. (2012), The association between schoolchildren intelligence and refractive error, European Review for Medical and Pharmacological Sciences; 16: 908-911.

11. Carly Siu-Yin Lam, et al. (2012), “Prevalence of Myopia among Hong Kong Chinese Schoolchildren: Changes over two decades”, Ophthalmic & Physiological Optics 32, 17-24.

12. Fahd Abdullah Al Wadaani et al. (2013), Prevalence and Pattern of Refractive Errors among Primary School Children in Al Hassa, Saudi Arabia, Global Journal of Health Science; Vol. 5, No. 1.

13. Hongmei YI, et al. (2015), Poor Vision among China’s Rural Primary School Students: Prevalence, Correlates and Consequences, China Economic Review 33: 247-262,published by Elsevier Inc.

14. Jenny M. Ip., et al. (2008), Myopia and the Urban Environment: Findings in a Sample of 12-Year-Old Australian School Children, Investigative Ophthalmology & Visual Science, Vol.49, No.9.

15. Lian-Hong Pi, et al. (2010), Refractive Status and Prevalence of Refractive Errors in Suburban School-age Children, International Journal of Medical Sciences, 7 (6):342-353.

16. Nathan Congdon, et al. (2008), Visual Disability, Visual Function, and Myopia among Rural Chinese Secondary School Children: The Xichang Pediatric Refractive Error Study (X-PRES)-Report 1, Investigative Ophthalmology & Visual Science, Vol. 49, No.7.

17. Olavi Parssinen (2012), The Increased Prevalence of Myopia in Finland, ActaOphthalmol. 90: 497-502.

18. Sandra Jobke, Erich Kasten, Christian Vorwerk (2008), The Prevalence rates of refractive errors among children, adolescents, and adults in Germany, Clinical Ophthalmology, 2(3), Dove Medical Press Ltd.

19. WataneeJenchitr, SupalukRaiyawa (2012), Refractive Errors: The Major Visual Impairment in Thailand, Rangsit Journal of Arts and Sciences, Vol. 2, No. 2, pp. 133-141.