Thông tin y khoa

Kính loạn thị

SUY NGHĨ

Kính cầu có thể chỉnh viễn thị, cận thị và lão thị – nhưng có một tật khúc xạ mà kính cầu không chỉnh được, đó là loạn thị.
Người có loạn thị sẽ cần một loại kính đặc biệt để nhìn rõ.

MỤC TIÊU

Bài này sẽ giải thích kính trụ và kính cầu-trụ hội tụ ánh sáng thế nào để chỉnh loạn thị.

KẾT QUẢ HỌC

Khi học xong bài này, bạn phải có khả năng:
Nêu các tật khúc xạ có thể chỉnh được bằng kính loạn thị.
Giải thích sự khác nhau giữa kính trụ và kính cầu-trụ
Mô tả các kinh tuyến chính của kính trụ.
Nhận biết hình dạng của kính loạn thị.
Giải thích kính loạn thị hội tụ ánh sáng thế nào.
Viết và hiểu được công suất của kính cầu-trụ.

ÔN TẬP KÍNH CẦU VÀ TẬT KHÚC XẠ


THẤU KÍNH:
 

 

Các tia sáng đi vào thấu kính có thể bị lệch hướng (khúc xạ).

Kính cầu có thể là cộng hoặc trừ.

Kính cộng hội tụ các tia sáng trong khi kính trừ phân kì các tia sáng.

Kính loạn thị có thể là trụ hoặc cầu-trụ.
 


THẤU KÍNH VÀ TẬT KHÚC XẠ:
 


Thấu kính có thể dùng để chỉnh tật khúc xạ.

 

Kính cầu chỉnh viễn thị, cận thị và lão thị:

Kính cộng chỉnh viễn thị và lão thị;

Kính trừ chỉnh cận thị.

Kính trụ chỉnh loạn thị.
 


HÌNH DẠNG THẤU KÍNH CẦU:
 

Thấu kính cộng dày hơn ở tâm so với rìa.

Thấu kính trừ mỏng hơn ở tâm so với rìa.
 

TIÊU CỰ:
 

Tiêu cự là khoảng cách giữa thấu kính và tiêu điểm.

Tiêu cự (f) liên quan với công suất (F) của thấu kính theo công thức:
f = 1/F hoặc F= 1/f

 

TẬT KHÚC XẠ:
 

Một người có tật khúc xạ sẽ cần đeo kính gọng hoặc kính tiếp xúc để có thể nhìn rõ và dễ chịu. Bởi vì mắt không có kích thước và hình dạng đúng.

Có 4 loại tật khúc xạ: cận thị, viễn thị, loạn thị, và lão thị.
 

KÍNH LOẠN THỊ VÀ MẮT:
 


Kính loạn thị dùng để chỉnh tiêu điểm của mắt người loạn thị. Kính loạn thị có thể được lắp vào gọng để giúp người loạn thị nhìn rõ.

Kính loạn thị cũng chỉnh tiêu điểm cho những người loạn thị kèm theo một tật khúc xạ khác như:

 

Loạn thị và viễn thị.

Loạn thị và cận thị.

Loạn thị và lão thị.

Có 2 loại kính loạn thị: kính trụ và kính cầu-trụ.

Kính cầu-trụ là một kính trụ phối hợp với một kính cầu.
 


KINH TUYẾN:
 


Kinh tuyến là một đường thẳng tưởng tượng cắt qua quang tâm của thấu kính. Một thấu kính có nhiều kinh tuyến (tùy theo hướng đường thẳng đi qua quang tâm), nhưng chỉ có 2 kinh tuyến chính.

 

2 kinh tuyến chính của kính loạn thị vuông góc với nhau. Công suất cao nhất của kính loạn thị ở một trong 2 kinh tuyến chính này, trong khi công suất thấp nhất có ở kinh tuyến chính thứ hai (vuông góc với kinh tuyến thứ nhất).
 

      
         Kính loạn thị có 2 kinh tuyến chính:
             - Kinh tuyến trục (có công suất thấp nhất)
             - Kinh tuyến công suất (có công suất cao nhất)

 
 

Chúng ta thường không nghĩ là kính cầu có các kinh tuyến bởi vì tất cả các kinh tuyến của kính cầu có cùng công suất. Chỉ kính loạn thị là có công suất khác nhau ở các kinh tuyến khác nhau.
kinh tuyen

Hình 1: Kính cầu có cùng một công suất ở tất cả các kinh tuyến, bất kể kinh tuyến ở hướng nào. Kính loạn thị có 2 kinh tuyến chính vuông góc với nhau.

nguoi chi tay qua phai           Kính loạn thị có công suất khác nhau ở các kinh tuyến khác nhau.
           Kính cầu có cùng một công suất ở tất cả các kinh tuyến.

 
 

Kính trụ (các Hình 2A và 2B) có thể có công suất trừ hoặc công suất cộng – cũng như kính cầu có thể có công suất trừ hoặc công suất cộng.
Kính trụ trừ, kính trụ cộng

Hình 2: Kính trụ trừ và kính trụ cộng

 

Một cách tốt để hiểu sự khác nhau giữa kính trụ và kính cầu là tưởng tượng cắt qua quang tâm của các thấu kính.


CẮT QUA KÍNH CẦU:
 

Hình 3 cho thấy hình ảnh một kính cầu cộng khi nó được cắt qua quang tâm.
Nếu nhìn vào mặt trong của kính (các mặt cắt), ta có thể thấy rằng kính cầu cộng này có một cạnh phẳng (plano) và một cạnh lồi.

Cắt một kính cầu cộng thành hai nửa cho thấy mặt trong của kính

Hình 3: Cắt một kính cầu cộng thành 2 nửa cho thấy mặt trong của kính (2 mặt cắt).

 

Chúng ta có thể cắt một kính cầu qua quang tâm ở bất kì hướng (kinh tuyến) nào và hình dạng của 2 mặt cắt luôn luôn giống nhau. Bởi vì kính cầu cộng có công suất bằng nhau ở tất cả các kinh tuyến.


CẮT QUA KÍNH TRỤ:
 

Nếu cắt kính trụ ở kinh tuyến công suất, chúng ta sẽ được 2 nửa như trong Hình 4. Bạn có thể thấy rằng mặt cắt phía trong cũng giống như hình mặt cắt của kính cầu cộng. Có một cạnh phẳng (plano) và một cạnh lồi. Nghĩa là ở kinh tuyến này có công suất cộng.
Cắt một kính trụ cộng thành hai nửa ở kinh tuyến công suất

Hình 4: Cắt một kính trụ cộng thành 2 nửa ở kinh tuyến công suất.

 

Bây giờ nếu cắt kính trụ ở kinh tuyến trục (Hình 5), ta được 2 mặt cắt có 2 cạnh phẳng (plano). Cả 2 cạnh đều thẳng và song song, nghĩa là kinh tuyến trục không có công suất và không có lăng kính.

Cắt một kính trụ cộng thành 2 nửa ở kinh tuyến trục.

Hình 5: Cắt một kính trụ cộng thành 2 nửa ở kinh tuyến trục.

 

Bây giờ, nếu cắt kính trụ theo bất kì hướng nào giữa kinh tuyến công suất và kinh tuyến trục (Hình 6), thì mặt trên trở thành ít cong hơn khi đường cắt càng gần kinh tuyến trục. Nghĩa là công suất cao nhất của kính trụ chỉ có ở kinh tuyến công suất, và công suất của các kinh tuyến càng giảm khi nó càng ở gần kinh tuyến trục nơi công suất bằng 0.

Công suất và kinh tuyến trục

Hình 6: Công suất và kinh tuyến trục

 


SỰ KHÚC XẠ ÁNH
SÁNG QUA MỘT KÍNH
TRỤ:

 

Kính trụ và kính cầu khúc xạ các tia sáng khác nhau:

Kính cầu khúc xạ các tia sáng tới song song vào một tiêu điểm hoặc tiêu điểm ảo.

Kính trụ khúc xạ các tia sáng tới song song vào một tiêu tuyến hoặc tiêu tuyến ảo.

Kính cầu cộng và kính trụ cộng hội tụ ánh sáng.

Hình 7: Kính cầu cộng và kính trụ cộng hội tụ ánh sáng.

 

Hình 7 cho thấy kính cầu cộng khúc xạ các tia tới song song vào một tiêu điểm; trong khi kính trụ cộng khúc xạ ánh sáng vào một tiêu tuyến chứ không phải tiêu điểm. Bạn có thể thấy rằng tiêu tuyến vuông góc với kinh tuyến công suất.

 

Hình 8 cho thấy các tia sáng tới song song bị khúc xạ bởi một kính cầu trừ và một kính trụ trừ. Kính cầu trừ tạo thành một tiêu điểm ảo. Kính trụ trừ tạo thành một tiêu tuyến ảo.

Kính cầu trừ và kính trụ trừ làm khúc xạ ánh sáng

KÍNH CẦU-TRỤ

Mặc dù kính cầu-trụ đều là những thấu kính đơn, chúng có thể được xem như:

 Hai kính trụ gắn vuông góc với nhau, hoặc

Một kính cầu gắn với một kính trụ.

Kính cầu-trụ có công suất ở cả 2 kinh tuyến chính, nhưng mỗi kinh tuyến có công suất khác nhau:
Kinh tuyến công suất có công suất tối đa.
Kinh tuyến trục có công suất tối thiểu.
Khác với kính trụ, kinh tuyến trục của một kính cầu-trụ có công suất lớn hơn 0. Nghĩa là kính cầu-trụ cộng tạo thành 2 tiêu tuyến, và kính cầu-trụ trừ tạo thành 2 tiêu tuyến ảo (không phải một tiêu tuyến như kính trụ).

Kính cầu-trụ cộng tạo thành 2 tiêu tuyến
Hình 9: Kính cầu-trụ cộng tạo thành 2 tiêu tuyến.

CÁCH GHI TRỤC TIÊU CHUẨN

 

Cách ghi tiêu chuẩn dùng để chỉ hướng của kinh tuyến công suất của một kính trụ hoặc kính cầu-trụ.
Cho cả mắt phải và mắt trái, chúng ta đo ngược chiều kim đồng hồ từ kinh tuyến ngang theo độ (º).

Thang độ dùng để ghi hướng trục của kính trụ.

Hình 10: Thang độ dùng để ghi hướng trục của kính trụ.

 

Mặc dù đường ngang ở cả 0 và 180, chúng ta luôn gọi là 180. Do đó, trục của một kính trụ hoặc kính cầu-trụ có thể trong khoảng 1 và 180.
Chúng ta cũng không dùng dấu độ (º) bởi vì có thể bị nhầm với số không (0).

CÔNG SUẤT CỦA MẮT KÍNH LOẠN THỊ

Chúng ta đo công suất của kính loạn thị bằng điốp trụ. Cách ngắn gọn để ghi là DC.
 

 


GHI CÔNG SUẤT
KÍNH CẦU-TRỤ

 


Khi ghi đơn kính cầu-trụ, bạn cần ghi cả phần cầu và phần trụ của công suất kính.
Bạn cũng cần ghi hướng của trục kính trụ theo cách ghi trục tiêu chuẩn.

Thí dụ

Công thức tính công suất của kính loạn thị

HÌNH DẠNG KÍNH LOẠN THỊ

Độ dày của rìa kính loạn thị khác nhau ở các vị trí khác nhau quanh rìa.
Hình dạng kính loạn thị

Hình 11: Độ dày ở rìa của kính trụ thay đổi.

 

Giống như kính cầu, kính loạn thị có thể có hình dạng khác nhau.
Bề mặt kính loạn thị có thể:
Plano (phẳng).
Lồi (cong như mặt ngoài của quả bóng).
Lõm (cong như mặt trong của quả bóng).


TÓM TẮT - KÍNH LOẠN THỊ

Kính Loạn Thị

Kính loạn thị và mắt:
Kính trụ chỉnh loạn thị.
Kính cầu-trụ chỉnh loạn thị kèm theo một tật khúc xạ khác (viễn thị, cận thị hoặc lão thị).
Các kinh tuyến:
Kinh tuyến là một đường thẳng tưởng tượng cắt qua quang tâm của thấu kính.
Kính loạn thị có 2 kinh tuyến chính:
- Kinh tuyến trục (có công suất tối thiểu)
- Kinh tuyến công suất (có công suất tối đa).
Các kinh tuyến của kính cầu có công suất bằng nhau.

Kính Trụ

Kính trụ chỉnh loạn thị.
Kính trụ có thể có công suất trừ hoặc công suất cộng.
2 kinh tuyến chính của kính trụ có công suất khác nhau:
- Kinh tuyến công suất có công suất tối đa.
- Kinh tuyến trục có công suất bằng không (plano).
Sự khúc xạ ánh sáng qua một kính trụ:
Kính cầu khúc xạ ánh sáng tới song song vào một tiêu điểm (hoặc một tiêu điểm ảo).
Kính trụ khúc xạ ánh sáng tới song song vào một tiêu tuyến (hoặc một tiêu tuyến ảo).
Tiêu tuyến của kính trụ thì vuông góc với kinh tuyến công suất.

Kính Cầu Trụ

Kính cầu-trụ chỉnh loạn thị phối hợp với cận thị, viễn thị hoặc lão thị.
Kính cầu-trụ là những kính đơn, nhưng giống như:
- Hai kính trụ ghép vào nhau, hoặc
- Một kính cầu ghép với một kính trụ.
2 kinh tuyến chính của kính cầu-trụ có công suất khác nhau:
- Kinh tuyến công suất có công suất tối đa.
- Kinh tuyến trục có công suất tối thiểu.
Sự khúc xạ ánh sáng qua một kính cầu-trụ:
Kính cầu-trụ khúc xạ ánh sáng tới song song vào 2 tiêu tuyến hoặc tiêu tuyến ảo.

Cách Ghi Trục Tiêu Chuẩn

Dùng để chỉ hướng của kinh tuyến công suất của kính loạn thị.
Đo bằng độ theo hướng ngược chiều kim đồng hồ từ 1 đến 180.

Công Suất Của Kính Loạn Thị

Chúng ta đo công suất kính loạn thị bằng điốp trụ, viết tắt là DC.
Ghi một đơn kính cầu-trụ, cần phải viết rõ:
- Phần cầu của công suất kính.
- Phần trụ của công suất kính.
- Trục của trụ bằng cách ghi trục tiêu chuẩn.

Hình Dạng Mắt Kính Loạn Thị

Độ dày của mắt kính loạn thị thay đổi ở các vị trí khác nhau quanh rìa mắt kính.
Độ dày của mắt kính cầu không thay đổi ở quanh rìa mắt kính.